|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/DS - ST Ngày: 31-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đổi
Ông Nguyễn Thanh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-DS ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh Đ năm 1980; địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đông Phùng Minh P năm 2000; địa chỉ: Số A, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An
- Bị đơn: Ông Lê Văn K năm 1971; địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
(Ông Pông K có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Theo nội dung thỏa thuận ngày 16/09/2022 giữa ông K và ông Đ1 ông K có chuyển nhượng cho ông Đ2 đất có diện tích 4m x 20m tại một phần thửa đất 355, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An với giá 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), ông Đ3 thanh toán cho ông K 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) số tiền còn lại là khi san lấp nền xong sẽ thanh toán và ông K2 trách nhiệm hoàn tất các giấy tờ pháp lý để ký hợp đồng chuyển nhượng có công chứng sang tên cho ông Đ4 nhiên, khi ông Đ5 xe xuống san lấp mặt bằng thì bị ngăn cản không san lấp được. Từ đó đến nay ông K vẫn không có biện pháp giải quyết khó khăn trên để ông Đ6 san lấp như thỏa thuận, ông K cũng không hoàn tất thủ tục giấy tờ pháp lý sang tên cho ông Đ
Do đó, ông Đ8 kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
- Hủy Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng (phần đất có diện tích 4m x 20m tại một phần thửa đất 355, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 16/09/2022 được ký giữa ông Lê Văn K3 ông ĐBuộc ông Lê Văn K4 trả lại cho ông Đ số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cùng với số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Tổng số tiền ông Lê Văn K4 trả lại cho ông Đ là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo giấy tay ngày 16/9/2022 mà ông K5 cam kết.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc ông K4 trả lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo giấy tay ngày 16/9/2022 mà ông K5 cam kết.
- Bị đơn ông Lê Văn K6 bày:
Vào ngày 25/6/2020, ông có bán cho ông Đ9 phần đất có chiều ngang 4m x dài 20m, giá đất thỏa thuận là 90.000.000 đồng, ông Đ3 đưa cho ông 50.000.000 đồng, còn lại là 40.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận miệng với nhau vì phần đất mà ông chuyển nhượng cho ông Đ10 các thửa 355, 354, do ông bị lạc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là đất lúa nên không thể chuyển nhượng theo quy định. Đến ngày 16/9/2022, ông có viết giấy cam kết với ông Đ11 trong vòng 01 tháng sẽ hoàn thành giấy tờ, giao đất cho ông Đ12 đến nay giấy tờ đất ông chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, ông K7 định đây đất này là của ông, ông đồng ý tiếp tục chuyển nhượng phần đất trên cho ông Đ13 cam đoan đất không có tranh chấp, giá chuyển nhượng đất lúa trên vẫn là 90.000.000 đồng, nếu ông Đ14 tiếp cho ông 40.000.000 đồng ông sẽ giao phần đất trên cho ông Đ sử dụng. Trường hợp ông Đ15 đồng ý tiếp tục mua thì ông chỉ trả lại 50.000.000 đồng khi nào ông bán được đất cho người khác, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ
Tại phiên tòa, ông K2 ý kiến, ông đã nhận số tiền 50.000.000 đồng của ông Đ16 ngày 25/6/2020, nay ông đồng ý trả lại số tiền trên cùng với mức lãi suất 10%/năm cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Ngoài ra ông không đồng ý yêu cầu phạt cọc của ông Đ
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Việc nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất việc ông K2 chuyển nhượng cho ông Đ2 đất có diện tích 4m x 20m tại một phần thửa đất 355, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An với giá 90.000.000 đồng, ông Đ3 thanh toán cho ông K 50.000.000 đồng, nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nhận thấy phần đất mà ông K8 nhượng cho ông Đ10 các thửa 355, 354, do ông K9 lạc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đến nay giấy tờ đất ông K10 làm được. Do ông K2 lỗi dẫn đến không thể thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K3 ông Đ17 yêu cầu của ông Đ18 việc hủy Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng (phần đất có diện tích 4m x 20m tại một phần thửa đất 355, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 16/09/2022 được ký giữa ông Lê Văn K3 ông Đ19 có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ giấy tay đề ngày 16/9/2022 giữa ông K3 ông Đ20 hiện ông K11 ông Đ21 vòng 01 tháng kể từ ngày 16/9/2022 ông K12 hoàn thành giấy tờ, giao đất cho ông Đ22 không ông K4 đền cọc gấp đôi. Do giấy tay đề ngày 16/9/2022 giữa ông K3 ông Đ23 thể hiện nếu ông K13 phạm thì ông K4 đền cọc gấp đôi mà không thể hiện rõ là đền C tiền bao nhiêu. Nhận thấy, việc yêu cầu của ông Đ19 có căn cứ một phần vì vậy đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông K14 thường cho ông Đ24 tiền 50.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông K
Từ các căn cứ và phân tích nêu trên, đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và phạt cọc đối bị đơn, bị đơn có nơi cư trú ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đối chất, các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và công khai đúng thủ tục. Qua hòa giải các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa các đương sự thống nhất: Vào ngày 25/6/2020, ông K2 thỏa thuận về việc đặt cọc để chuyển nhượng cho ông Đ2 đất có diện tích 4m x 20m tại một phần thửa đất 355, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An với giá 90.000.000 đồng, ông Đ3 thanh toán cho ông K 50.000.000 đồng. Đến ngày 16/9/2022, ông K2 viết lại văn bản xác nhận đã nhận tiền và hẹn trong vòng 01 tháng sẽ giao giấy tờ đất cho ông Đ, các bên thống nhất xác định đây là hợp đồng đặt cọc. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2] Xét tính hợp pháp của hợp đồng đặt cọc ngày 16/9/2022: Mục đích của việc đặt cọc của các bên nhằm đảm bảo cho việc chuyển nhượng diện tích đất khoảng 80m², thuộc một phần thửa đất 355 do ông K15 chủ sử dụng đất. Tuy nhiên, tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận tại thời điểm xác lập hợp đồng đặt cọc và đến nay bị đơn bị đơn vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên đồng thời phần đất trên là đất lúa không đủ điều kiện tách thửa theo quy định. Như vậy, hợp đồng đặt cọc giữa ông Đ25 ông K vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập theo quy định tại Điều 117, 123 Bộ luật Dân sự.
[2.2] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng đặt cọc vô hiệu: Căn cứ quy định tại Điều 133 của Bộ luật Dân sự, buộc ông K phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đ số tiền 50.000.000 đồng.
[2.3] Về yêu cầu phạt cọc: Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc phạt cọc đối với bị đơn. Xét thấy, do hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự nên không có cơ sở phạt cọc của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị đơn đồng ý tự nguyện hỗ trợ cho nguyên đơn số tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền đã nhận là 50.000.000 đồng từ ngày 25/6/2020 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm (31/5/2024), nguyên đơn không có ý kiến đối với yêu cầu này. Xét thấy, bị đơn tự nguyện hỗ trợ tiền lãi trên số tiền đã nhận cho nguyên đơn và sự tự nguyện này là có lợi cho nguyên đơn nên được chấp nhận. Cụ thể, số tiền bị đơn phải trả lãi cho nguyên đơn được tính như sau: 50.000.000 đồng x 10%/năm x 03 năm 11 tháng 6 ngày = 19.648.000 đồng.
Tổng cộng buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 69.648.000 đồng, nội dung đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Ông Đ26 chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền phạt cọc không được Tòa án chấp nhận. Ông K phải chịu án phí không có giá ngạch đối với việc vô hiệu hợp đồng và án phí có giá ngạch đối với số tiền cọc 50.000.000 đồng và 19.648.000 đồng tiền lãi phải trả cho ông Đ.
Vì các lẽ trên,
QYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 328; 117, 123, 131, 352, 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh Đ27 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với ông Lê Văn K16.
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng đặt cọc ngày 16/9/2022 giữa ông Nguyễn Anh Đ28 ông Lê Văn K16.
-
Về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Buộc ông Lê Văn K16 phải trả cho ông Nguyễn Anh Đ27 số tiền đặt cọc đã nhận là 50.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn K17 việc hỗ trợ cho ông Nguyễn Anh Đ29 tiền 19.648.000 đồng: Buộc ông Lê Văn K18 trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Anh Đ29 tiền 19.648.000 đồng.
Tổng cộng ông Lê Văn K18 trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Anh Đ29 tiền 69.648.000 đồng (sáu mươi chín triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh Đ30 việc phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng đối với ông Lê Văn K16
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Anh Đ27 phải chịu 5.000.000 đồng án phí, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng và 3.750.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006686 và 0006687 cùng ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Ông Nguyễn Anh Đ31 nộp thêm số tiền 950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc ông Lê Văn K16 phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 1.741.200 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm đồng) án phí có giá ngạch sung công quỹ nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Như |
Bản án số 108/2024/DS - ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 108/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Đức "tranh chấp hợp đồng đặt cọc" Lê Văn Khúc
