Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/DS-PT

Ngày 24-4-2024

V/v “Tranh chấp về lối đi, bồi thường

thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, yêu cầu

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Kiều Lương

Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

Bà Hoàng Thị Thu Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 327/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về lối đi, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án sơ thẩm số 26/2023/DS - ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 100/2024/QĐ - PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, và quyết định hoãn phiên tòa số: 300/2024/QĐ-PT ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị X, sinh năm 1958.

Địa chỉ: 37/5, Đoàn Như H, phường A, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1977.

Địa chỉ: 37/5, Đoàn Như H, phường A, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Văn Kim P, sinh năm 1972.

Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ.
  2. Địa chỉ: E đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  3. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thế L - Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1.
  4. Anh Hồ Bảo Đ, sinh ngày 21/5/2004.
  5. Cháu Hồ Văn Đan T1, sinh năm 2010.

Cháu T1 do bà Văn Kim P (mẹ ruột) là người giám hộ.

Cùng địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn B, sinh năm 1964.
  2. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1964.

Địa chỉ: tổ D, ấp B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

  1. Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1947.

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện L, Đồng Nai.

(Bà P, anh T có mặt; ông L, anh Đ, ông B, bà T2, bà H1 đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn bà Dương Thị X và người đại diện theo ủy quyền của bà X là anh Phạm Quang T trình bày:

Anh T là con của bà X. Bà X là chủ sở hữu thửa đất số 271, tờ bản đồ số 65 tại ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Thửa đất này trước đây do bà ngoại là Võ Thị A, sinh năm 1938 mua và sở hữu từ khoảng năm 1964 cho đến năm 2012 thì bà A cho và chuyển quyền sử dụng thửa đất trên cho bà X đến nay. Từ khi bà A mua và sử dụng cho đến nay là hơn 50 năm, thửa đất của bà X có một lối đi là con đường đất (rộng khoảng hơn 01 mét), kế bên đường đất là mương thoát nước (rộng khoảng 0,7 mét), là lối đi chung và thoát nước của nhiều hộ dân (tiếp nối với hẻm A, đường D), giáp ranh thửa đất số 269, 270 tờ bản đồ số 65, trước đây hai thửa đất trên do hai chủ sở hữu sau này do bà Văn Kim P là chủ sở hữu (mua khoảng năm 2015), đồng thời giáp ranh với thửa 258 của ông Nguyễn Ngọc T3 và bà Huỳnh Thị H1. Lối đi này không phải là lối đi nhờ trên đất của ai cả, bà ngoại của anh có đất trước, bà P là người đến sau thì không thể nói là đi nhờ được. Ngoài lối đi này, bà X không còn lối đi nào khác vào đất của bà X. Đề nghị không triệu tập bà A, vì đã già yếu không đi lại được, ảnh hưởng sức khỏe.

Từ khi bà A mua và sử dụng cho đến nay, bà X và hộ dân ông Nguyễn Ngọc T3, vợ là bà Huỳnh Thị H1, các hộ dân khác và cả hai chủ thửa đất số 269, 270 (trước khi bán cho bà P) vẫn sử dụng lối đi trên để vào vào đất canh tác. Nhưng đầu năm 2019 bà P tiến hành rào bao quanh 02 thửa đất 269, 270 lấn cả lối đi.

Thửa đất số 270 tờ bản đồ 65 trước khi bán cho vợ chồng ông Hồ Văn Đ1, bà Văn Kim P là do ông Lê Văn B (là cha ruột của ông Lê Đỗ C - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A) là chủ sở hữu. Khi ông B sử dụng thửa đất trên thì có làm hàng rào kẽm, trụ bê tông giáp với lối đi và mương nước (rộng khoảng 02 mét, dài khoảng 50 mét) tiếp nối với hẻm 150 để đi vào thửa đất 271 của bà X (bà X có hình ảnh chụp vào cuối năm 2015, mương nước tiếp nối trên thửa 271 của bà X vẫn còn).

Đoạn đường hẻm A đường D (phía trước tiếp giáp thửa 269 đến đầu thửa 270) thực tế có trên bản đồ địa chính hiện hữu, đã được tráng bê tông liên tục từ đầu hẻm A đến giáp thửa đất 270 thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã A nhưng bà P ngang nhiên rào chắn thành cổng hàng rào nhà bà P làm cho nhà bà X không có đường đi vào đất. Bà X phải đi trên hẻm nhỏ, đi nhờ qua đất người khác.

Ngày 21/01/2019 cán bộ địa chính xã có xác minh bà Trần Thị M; bà Huỳnh Thị H1 chủ thửa đất 258 tờ bản đồ số 65 giáp với mương nước và đường đi vào đất bà X và bà Trần Thị M1 (chủ thửa đất 270 trước khi bán cho ông Lê Văn B) đều xác nhận trước và sau khi chuyển nhượng có con đường và mương nước (có biên bản). Đây là yếu tố xác thực con đường và mương nước đã tồn tại từ trước khi bà P rào chắn.

Đồng thời, giáp ranh với mương nước là thửa đất số 258, tờ bản đồ số 65 do ông T3 và bà H1 là chủ sở hữu cùng các hộ dân sống trước năm 1975 đến nay đều xác nhận mương nước và con đường đã có từ khi họ đến ở và canh tác, họ sử dụng con đường để vào đất của mình và mương nước để dẫn thoát nước chung (có giấy xác nhận). Đây là việc làm sai trái, gây ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bà X và các hộ dân. Bà X đã nhiều lần gửi đơn đến Ủy ban nhân huyện L, Ủy ban nhân xã A yêu cầu giải quyết lối đi chung và mương thoát nước chung của gia đình bà X nhưng không được giải quyết.

Ngày 23/01/2019 bà X gửi đơn đến Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Đồng Nai khiếu nại hành vi ngang nhiên xây rào chắn con đường vào đất của bà X. Ngày 29/01/2019 bà X nhận được công văn số 1109/UBND-TCD, ngày 28/01/2019 của Ủy ban nhân tỉnh Đ nội dung: yêu cầu kiểm tra việc rào chắn của bà P; Ủy ban nhân dân huyện L chỉ đạo xử lý theo hướng không được thay đổi hiện trạng về lối đi ban đầu của khu đất.

Tại đơn khởi kiện bà X yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Buộc bà Văn Kim P trả lại lối đi có diện tích là 90m² thuộc thửa đất số 269 và 100m² thuộc thửa số 270 tờ bản đồ số 65 xã A. Tổng là 190m².
  • + Yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại số tiền là 10.000.000 đồng do rào bít lối đi, làm cho bà X không có lối vào đất để chăm sóc cây ăn trái dẫn đến cây ăn trái chết.
  • + Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P để điều chỉnh cấp lại trừ con đường ra. Bà X chọn khởi kiện tại Tòa án đối với yêu cầu này, không yêu cầu cơ quan khác giải quyết.

Ngày 25/10/2022, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:

Yêu cầu bà Văn Kim P trả lại lối đi có diện tích là 137,1m² theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1.

Yêu cầu bà Văn Kim P bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng phát sinh từ việc rào chắn như do không có đường đi nên không vận chuyển được trái cây (dâu, măng cụt, ...), không chăm sóc được cây trái đã làm hư hỏng, thiệt hại. Cụ thể gồm các khoản: Tiền công thuê mướn dọn cây chết, làm cỏ, vét mương khai nước: 4.550.000 đồng; Tiền cây ăn trái chết: 04 cây chôm chôm, 08 cây mít (trồng hơn 02 năm) giá mỗi cây khoảng 3.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 3.600.000 đồng; Tiền thiệt hại không thu hoạch được dâu, măng cụt là 1.850.000 đồng.

Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Văn Kim P trình bày:

Hiện nay phần rào chắn con đường đi tiếp giáp thửa đất số 269 thì bà đã tháo dỡ vì đây là đường của Nhà nước theo bản đồ địa chính.

Về yêu cầu khởi kiện của bà X thì bà có ý kiến: Bà X yêu cầu bà trả lối đi thì bà không đồng ý. Vì đường đi công cộng chỉ có đến hết thửa 269, còn lối đi trên thửa 270 đã được công nhận quyền sử dụng đất cho bà, không có đường đi và mương nước trên bản đồ địa chính, trước đây bà X đi nhờ qua đất của bà. Trước đây chồng bà là ông Đ1 mua đất của ông B, có nói với bà X là bán cho ông Đ1, kêu bà X mua lại đường đi nhưng bà X không mua nên ông Đ1 chưa xây hàng rào, cho đi tạm, khi nào bà xây thì không cho đi nữa. Trước khi chết thì chồng bà dặn bà là sau này rào lại là để bảo vệ cây kiểng, đồ công trình vì hay bị mất đồ nên bà rào lại.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Bà không đồng ý, vì bà rào trên các thửa đất thuộc quyền sở hữu của bà được nhà nước công nhận. Bà không gây thiệt hại gì cho bà X, cây trong vườn của bà X là do bà X tự phá bỏ và đốt, chứ không phải bị chết.

Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 270 thì bà không đồng ý do thửa đất này đã được cấp đúng diện tích mà gia đình bà nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn B. Thửa 270 này không có lối đi công cộng, chỉ là cho đi nhờ mà thôi.

Bà không đề nghị triệu tập bà M1, vì bà đã già yếu, nói không rõ.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Bảo Đ trình bày:

Thửa đất số 269, tờ bản đồ 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do anh là người được nhận thừa kế của cha anh (là ông Hồ Văn Đ1) để lại. Do khi nhận thừa kế, anh chưa đủ tuổi nên mẹ anh là bà Văn Kim P là người giám hộ theo pháp luật đại diện anh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825772 ngày 18/7/2017. Nay anh đã đủ 18 tuổi nhưng anh chưa đi cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà X. Vì lối đi đó nằm trong đất của anh, bà X đi nhờ trên đất của anh, không phải là lối đi chung nên không đồng ý trả lối đi. Mẹ anh rào đất lại là vì hay bị mất sắt, mất đồ. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại thì anh không đồng ý, vì đó không phải là lối đi chung, gia đình anh không gây thiệt hại cho bà X. Trước đây bà X có lối đi khác. Đất của anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ trình bày:

Nguồn gốc sử dụng đất: Ông Lê Văn B được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C458669 ngày 27/5/1994 với tổng diện tích 3.665m², loại đất T (ONT) 100m², CNĐ, Q (CLN) 3.565m², thửa đất số 446, 269 tờ bản đồ 9, 12 xã A.

Năm 2007 xã A, huyện L được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt kinh phí đo đạc chỉnh lý biến động, kết quả đo đạc được phê duyệt ngày 21/10/2009.

Ngày 09/4/2008 ông Lê Văn B kê khai đăng ký cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thông tin thửa đất theo hệ thống bản đồ địa chính mới xã A là thửa đất 270 tờ bản đồ số 65 (thay thế thửa 269 tờ bản đồ 12), diện tích 2.675m², giảm 525m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và thửa đất 21 tờ bản đồ số 60 (thay thế thửa 446 tờ bản đồ 9), diện tích 446m², giảm 19m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

Ngày 02/7/2009 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xét duyệt hồ sơ cấp đổi đồng loạt của ông Lê Văn B là đúng quy định.

Ngày 10/7/2010 phòng T4 có Tờ trình số 2551/TTr-TNMT về việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã A.

Ngày 06/10/2009 ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị T2 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AO 450640, diện tích 2.675m², thửa đất 270, tờ bản đồ 65 xã A loại đất CLN và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 205511, diện tích 446m², thửa đất 21 tờ bản đồ 60 xã A loại đất ONT, CLN cấp ngày 11/6/2010.

Ngày 01/02/2016 ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hồ Văn Đ1, thửa đất 270 tờ bản đồ 65 diện tích 2.675m² và thửa đất 269 tờ bản đồ 65 diện tích 1.200m², hợp đồng được UBND xã A chứng thực số 06/2016 quyển số 01/2015/TP/CC-SCC/HĐGD.

Ngày 02/02/2016 ông Trần Văn Y được ông Lê Văn B ủy quyền nộp hồ sơ biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại bộ phận nhận và trả kết quả của UBND huyện L.

Ngày 01/3/2016 Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ có phiếu trình đề nghị Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hồ Văn Đ1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 06/2016 quyển số 01/2015: TP/CC-SCT/HĐGD.

Ngày 02/3/2016 ông Hồ Văn Đ1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 353720 diện tích 2.675m², thửa đất 270, tờ bản đồ 65 xã A, loại đất CLN và số CD 353719 diện tích 1.200m², thửa đất 269, tờ bản đồ 65 xã A, loại đất ONT, CLN.

Ngày 12/5/2017 ông Hồ Văn Đ1 (đã chết), bà Văn Kim P là vợ được hưởng 2.168m² giá trị tài sản thừa kế gồm các thửa 133, 303, 252 tờ bản đồ 67, 61 xã A, bà P đại diện cho con Hồ B được hưởng 1.200m² giá trị tài sản thừa kế thửa đất 269 tờ bản đồ 65 xã A và bà P đại diện cho con Hồ Văn Đ2 T1 được hưởng 2.675m² giá trị tài sản thừa kế thửa đất 270 tờ bản đồ 65 xã A. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được Văn phòng C2 chứng thực số 008211, quyển số 01/2017.TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 04/7/2017.

Ngày 06/7/2017 bà Văn Kim P nộp hồ sơ biến động do nhận tài sản thừa kế quyền sử dụng đất tại bộ phận nhận và trả kết quả của UBND huyện L.

Ngày 13/7/2017 Văn phòng Đ - Chi nhánh L1 thẩm định hồ sơ theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 008211, quyển số 01/2017.TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 04/7/2017 là phù hợp với quy định pháp luật, đề nghị Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chủ sử dụng đất.

Ngày 18/7/2017, bà Văn Kim P được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thừa ủy quyền của Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 825771 với diện tích 361m², thửa đất 133 tờ bản đồ 67 loại đất ONT, CLN. SỐ CI 825770 với diện tích 1.156m², thửa đất 303 tờ bản đồ 61 loại đất ONT, CLN. SỐ CI 825769 với diện tích 651m², thửa đất 252 tờ bản đồ 61 loại đất ONT, CLN. SỐ CT 825772 với diện tích 1.200m², thửa đất 269 tờ bản đồ 65 loại đất ONT, CLN bà P là người giám hộ theo pháp luật của ông Hồ Bảo Đ. Số CI 825768 với diện tích 2.675m², thửa đất 270 tờ bản đồ 65 loại đất CLN bà P là người giám hộ theo pháp luật của bà Hồ Văn Đan T1.

Qua kiểm tra rà soát hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 825768 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thừa ủy quyền của Sở T cấp cho bà Văn Kim P là người giám hộ theo pháp luật của bà Hồ Văn Đan T1, diện tích 2.675m² thửa đất 270, tờ bản đồ 65 xã A, huyện L đảm bảo đúng trình tự quy định pháp luật đất đai, được quy định tại khoản 1, Điều 37, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai.

- Người làm chứng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị T2 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 270 tờ bản đồ 65 xã A là do cha mẹ cho vợ chồng ông bà, sử dụng vào mục đích trồng cây ăn trái, hiện trạng đất tại thời điểm đó xung quanh bốn bên hiện hữu có 4 con đường mương thoát nước, sử dụng thoát nước chống ngập, thay cho ranh đất mỗi bên sử dụng một phần đường mương. Trước đó, cha mẹ ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó được cha mẹ cho lại vợ chồng ông bà và ông bà được cấp giấy chứng nhận. Đến năm 2009 vợ chồng ông bà cấp đổi lại sổ hồng và cũng được cấp giấy chứng nhận có diện tích 2.675m². Từ khi cha mẹ để lại đất cho ông bà thì hiện trạng không có con đường đi thể hiện trên bản đồ, mà chỉ có đường đi nhờ trên đất giữa chủ này với chủ kia mà thôi.

Trước năm 2008, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng đất của bà Trần Thị M2 thửa số 269 tờ bản đồ số 65 xã A, diện tích 1.200m². Đến năm 2008, ông bà làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận.

Đến năm 2016 ông bà chuyển nhượng hai thửa đất nêu trên lại cho ông Hồ Văn Đ1 được toàn quyền sử dụng từ đó cho đến nay. Ngày giao đất giữa ông và ông Đ1 thỏa thuận mời bà H1 đến làm chứng việc giao đất và ranh, ông đã thông báo ông Đ1 nếu sau này có làm hàng rào ranh đất thì từ mép mương nước thụt vào 0,5m là được, còn phía bên bà H1 cũng thụt vào 0,5m bên đất của bà H1, còn con mương hiện hữu hơn 0,5m hiện không được sử dụng, chỉ để làm đường đi cho bà con phía dưới. Tất cả: ông, ông Đ1, bà H1 đều thống nhất. Riêng ông bà chỉ bán toàn bộ phần diện tích thể hiện trên giấy chứng nhận mà ông bà được cấp hợp pháp mà thôi.

Hiện trạng thửa 269 tờ bản đồ 65 có thể hiện con đường giao thông nằm trên thửa 269 đến đầu thửa 270 là hết.

Trước năm 1994 bà X và ông bà đi canh tác đất thường là đi nhờ trên đất của bà H2 và bà H1. Sau này bà H2 không cho đi nữa nên bà X đi nhờ trên đất của vợ chồng ông là thửa 270 và thửa của bà H1.

Việc nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà là đúng quy định, khi ông bà chuyển nhượng cho ông Đ1 đúng diện tích được cấp và vợ chồng ông Đ1, bà P cũng được cấp giấy chứng nhận đúng diện tích mà ông bà đã chuyển nhượng. Ông bà cam kết khai đúng sự thật.

Ý kiến của ông B đối với Thông báo số 10618/TB-UBND-TCD ngày 13/9/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ như sau: Ý kiến của ông thể hiện trong thông báo này là chưa đúng, vì ông đã trình bày phần đất của ông chỉ có con đường đi nhờ giữa các hộ gia đình phía dưới thôi, chứ không có thể hiện con đường đi chung. Mà lối đi chung chỉ đến hết thửa 269, tờ bản đồ 65 xã A, tức là trên thửa 270 xuống phía dưới là không có đường đi.

Ông xin trình bày thêm: Khi ông nhận phần đất thửa 270 do cha mẹ để lại, theo ông được biết ngày xưa toàn bộ phần đất tính từ đường liên xã A - thị trấn L chạy xuống các thửa đất 269 – 270 – 271 chỉ là một chủ. Sau đó, bà X mua lại thửa 271, còn cha mẹ ông mua lại thửa 270 cho ông nên đường đi thể hiện trên bản đồ chỉ tới đầu thửa 270 là hết. Hiện chủ của các thửa đất nêu trên đã chết từ lâu, chỉ còn con cháu vẫn sinh sống trên những thửa đất còn lại phía trên thửa 269 mà thôi. Ông cam kết khai đúng sự thật.

- Người làm chứng bà Huỳnh Thị H1 trình bày:

Lối đi từ thửa 269 đến 270 tờ bản đồ 65 xã A trước đây có gia đình bà và bà Năm M3, bà Út M4 đi. Cách đây mười mấy năm cho đến nay thì ba hộ này không còn đất ở dưới nên không đi trên lối đi này nữa. Lối đi này ba hộ đều đi nhờ trên đất của ông Tư N là ba của ông Lê Văn B. Còn chuyện mua bán giữa ba người: ông Út B1, bà P, bà X có thỏa thuận đường đi hay không thì bà không biết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị X đối với bà Văn Kim P về việc yêu cầu bà P trả lối đi có diện tích là 137,1m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 và yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);

Đình chỉ đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P.

Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị X phải chịu 17.849.691 đồng (mười bảy triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm chín mươi mốt đồng), bà X đã nộp 11.292.000 đồng. Bà X phải hoàn trả lại cho bà P số tiền là 6.557.691 đồng (sáu triệu năm trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm chín mươi mốt đồng) do bà P đã nộp tạm ứng số tiền này.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng.

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán.

Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định; thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo quy định tại Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như đảm bảo đúng thành phần, vô tư, khách quan, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thủ tục phiên tòa phúc thẩm từ khi bắt đầu cho đến thời điểm này được Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng quy định.

- Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

II. Về việc giải quyết vụ án:

- Đối với yêu cầu buộc bà P trả lại lối đi trên thửa đất số 269, 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Về nguồn gốc đất: Thửa đất số 269, 270 tờ bản đồ số 65 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Văn B và bà Đỗ Thị T2 sử dụng và đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào năm 2009 với diện tích của thửa 269 là 1.200m², thửa 270 là 2.675m². Ngày 01/02/2016 ông Hồ Văn Đ1 là chồng của bà Văn Kim P nhận chuyển nhượng của ông B và bà T2 cả hai thửa đất này theo quy định. Đến ngày 02/3/2016, ông Đ1 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích không thay đổi so với diện tích đã cấp cho ông B và bà T2.

Đối với lối đi qua thửa đất số 269, 270 tờ bản đồ số 65 tại xã A, theo kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của những người làm chứng thì trước đây có lối đi qua thửa đất 269 và 270, tuy nhiên chỉ có con đường công cộng tiếp giáp đến hết thửa số 269 và được thể hiện trên bản đồ địa chính, phía nguyên đơn cũng thừa nhận, thửa 270 không có con đường công cộng thể hiện trên bản đồ địa chính, mà trước đây các hộ dân đi nhờ trên đất của gia đình ông Lê Văn B và của các chủ cũ trước đó nên tạo thành một lối mòn. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 270 là đảm bảo, đúng trình tự quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Xét thấy, bà X yêu cầu bà P trả lối đi có diện tích là 137,1m² theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 thuộc các thửa: Thửa A có diện tích 60,3m², thửa B có diện tích 7,2m² thửa 269b có diện tích 4,0m, thửa 270b có diện tích 56,1m và thửa 270d có diện tích 9,5m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1), trong đó thửa A và B đều là đất giao thông thì trước đây bà P rào chắn nhưng hiện nay bà P đã tháo dỡ trả lại con đường do Nhà nước quản lý, còn thửa 269b, 270b và 270d đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P nên bà X yêu cầu bà P trả lại lối đi có diện tích 137,1m² là không có căn cứ chấp nhận. Hiện nay thửa đất số 271 của bà X không có lối đi nào khác, ngày 10/5/2023 bà X có đơn khởi kiện bổ sung về việc yêu cầu bà P mở lối đi qua bất động sản liền kề, tuy nhiên đơn khởi kiện bổ sung của bà X là sau khi Tòa án đã mở phiên tòa xét xử nên Tòa án không xem xét giải quyết mà giành quyền khởi kiện cho bà X bằng vụ kiện khác là phù hợp.

- Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng do bà P rào chắn lối đi làm cho bà X không vào đất của bà để chăm sóc cây trồng và thu hoạch cây trái được nhận thấy: Như đã phân tích ở trên do phần đất mà bà X tranh chấp không phải lối đi công cộng mà thuộc quyền quản lý sử dụng của bà P nên yêu cầu của bà X là không có cơ sở chấp nhận.

- Đối với yêu cầu khởi kiện về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 do Sở T tỉnh đồng Nai cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho bà P, nhận thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà P được Sở T cấp lại trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, không phải cấp lần đầu, không phải quyết định hành chính cá biệt theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tổ tụng dân sự nên cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này. Như vậy đối với các yêu cầu khởi kiện của bà X cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận là có căn cứ phù hợp pháp luật.

Do đó kháng cáo của bà X là không có cơ sở chấp nhận.

Bởi các lẽ trên:

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Áp dụng khoản 1 điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị X. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

III. Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Yêu cầu thẩm phán rút kinh nghiệm trong việc chậm đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ. Căn cứ khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự thì kháng cáo, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Sở T do ông Huỳnh Thế L là người đại diện theo ủy quyền, đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Về nội dung: Xét các nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

2.1. Đối với yêu cầu mở lối đi quan bất động sản liền kề: Tại phiên tòa sơ thẩm bà X yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Thành buộc bà Văn Kim P mở lối đi trên thửa đất 270, tờ bản đồ số 65 xã A để bà X có lối đi ra đường công cộng với chiều ngang 2m, chiều dài 50m, diện tích 100m², ngày 10/5/2023 bà X có đơn khởi kiện bổ sung về việc yêu cầu bà P mở lối đi qua bất động sản liền kề, ngày 29/5/2023 anh Phạm Quang T là người đại diện theo ủy quyền của bà X đề nghị giải quyết các yêu cầu khởi kiện của bà X như trước đây. Tuy nhiên, đơn khởi kiện bổ sung của bà X làm sau khi Tòa án đã mở phiên tòa xét xử nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết mà giành quyền khởi kiện cho nguyên đơn bà Dương Thị X bằng vụ án khác khi bà có yêu cầu là phù hợp.

2.2. Đối với yêu cầu bà Văn Kim P trả lại lối đi có diện tích là 137,1m² theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1.

Xét nguồn gốc của các thửa đất tranh chấp: Thửa đất số 269, 270 tờ bản đồ số 65 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Văn B và bà Đỗ Thị T2 sử dụng và đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào năm 2009 với diện tích của thửa 269 là 1.200m², thửa 270 là 2.675m². Ngày 01/02/2016 ông Hồ Văn Đ1 là chồng của bà Văn Kim P nhận chuyển nhượng của ông B và bà T2 cả hai thửa đất này theo quy định. Đến ngày 02/3/2016, ông Đ1 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích không thay đổi so với diện tích đã cấp cho ông B và bà T2. Ngày 12/5/2017, ông Đ1 chết nên con là Hồ Bảo Đ được nhận thừa kế thửa 269 và Hồ Văn Đ2 T1 được nhận thừa kế thửa 270 theo văn bản phân chia di sản thừa kế được công chứng ngày 04/7/2017. Ngày 18/7/2017, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 269 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825772 và đối với thửa đất số 270 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768, đều do bà Văn Kim P là người giám hộ đứng tên trên 02 giấy chứng nhận. Quá trình sử dụng đất bà P đã quản lý sử dụng đúng với phần diện tích bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 269, 270 nêu trên nên việc bà P xây dựng rào chắn trên phần đất của bà được cấp giấy chứng nhận là không vi phạm. Việc nguyên đơn bà X yêu cầu bà P trả lại hiện trạng đường đi diện tích đo đạc thực tế 137,1m² trong đó gồm có diện tích 56,1m² (thửa 270b) + 9,5m² (thửa 270d) + 4,0m² (269b) là một phần thửa đất thuộc các thửa 269, 270 và 60,3m² (thửa A) + 7,2m² (thửa B) là đất giao thông cho bà X sử dụng là không có căn cứ chấp nhận.

2.3. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà P ngày 18/7/2017: Căn cứ theo nội dung giải đáp thắc mắc tại Công số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà P liên quan đến thửa đất số 270 nêu trên được xác lập thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không phải là Quyết định cá biệt theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P là đúng pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu kháng cáo của nguyên đơn.

2.4. Đối với việc yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc rào chắn do không có đường đi để vận chuyển trái cây, không chăm sóc cây trái dẫn đến làm hư hỏng, thiệt hại và chi phí đi lại nhiều lần với số tiền 10.000.000 đồng: Lời khai đại diện theo ủy quyền nguyên đơn xác nhận khi bà P xây hàng rào chắn lối đi, gia đình ông không có lối đi thuận tiện nào khác, khi đi vào đất phải đi nhờ sang đất nhà người khác, như vậy có nghĩa rằng phần đất đang tranh chấp không phải là con đường duy nhất nguyên đơn sử dụng cho việc đi lại của mình mà nguyên đơn có thể sử dụng con đường khác đi vào thửa đất số 271 mà mình đang quản lý sử dụng và có thể sử dụng các lối đi khác để vào thửa đất 271 nên việc bà X cho rằng do không vào chăm sóc, canh tác và thu hoạch cây trái dẫn đến thất thu và yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền nêu trên là không có cơ sở chấp nhận.

2.5. Đối với số tiền chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết tổng chi phi tố tụng là 17.849.691 đồng. Bà X đóng 18.000.000đ triệu đồng, bà P đóng 8.000.000đ, ngày 01/3/2023, tòa án quyết toán với bà phượng số tiền chi phí tố tụng lá 6.557.691đ, số tiền dư ra trả lại là 1.442.200đ bà P đã nhận đủ, ngày 28/3/2023, Tòa án cấp sơ thẩm quyết toán tiền chi phi tố tụng với bà X 11.292.000đ, số tiền dư trả lại cho bà X là 6.558.000đ ông Phạm Quang T (đại diện cho bà X) đã nhận đủ, số tiền 6.558.000đ là số tiền chi phí tố tụng lần 2 theo yêu cầu tranh chấp của bà X với bà P. Do yêu cầu khởi kiện của bà X không được chấp nhận nên bà X phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này. Bà X đã nộp tạm ứng là 11.292.000 đồng (được làm tròn từ 11.291.972 đồng). Bà P đã nộp tạm ứng số tiền là 6.557.691 đồng nên bà X phải hoàn trả lại cho bà P số tiền này là đúng quy định.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị X.

[3] Về án phí dân sự: bà X là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc H3 và theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, phía bà X có đơn đề nghị miễn án phí nên bà X được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm

Trả lại cho bà X số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà P không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí do bà P nộp đã được tuyên trả lại tại Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn số 898/2022/QÐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị X; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DSST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 17, Điều 166, 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 584 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị X đối với bà Văn Kim P về việc yêu cầu bà P trả lối đi có diện tích là 137,1m² được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 và yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);
  2. Đình chỉ đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị X phải chịu 17.849.691 đồng (mười bảy triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm chín mươi mốt đồng), bà X đã nộp 11.292.000 đồng. Bà X phải hoàn trả lại cho bà P số tiền là 6.557.691 đồng (sáu triệu năm trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm chín mươi mốt đồng) do bà P đã nộp tạm ứng số tiền này.
  4. Về án phí dân sự: Bà X được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 005183 ngày 28/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

  1. Thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Hiệu lực của Bản án: Bản án Dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Long Thành;
  • -Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai
  • - Các đương sự; Luật sư.
  • - Lưu (HS, TP, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

tòa

Nguyễn Văn Ngẫu Nguyễn Mạnh C1

Thẩm phán- Chủ tọa phiên

tòa

Trần Thị Thanh H4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về lối đi, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 108/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về lối đi, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ại đơn khởi kiện bà X yêu cầu Tòa án giải quyết: + Buộc bà Văn Kim P trả lại lối đi có diện tích là 90m2 thuộc thửa đất số 269 và 100m2 thuộc thửa số 270 tờ bản đồ số 65 xã A. Tổng là 190m2. + Yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại số tiền là 10.000.000 đồng do rào bít lối đi, làm cho bà X không có lối vào đất để chăm sóc cây ăn trái dẫn đến cây ăn trái chết. + Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P để điều chỉnh cấp lại trừ con đường ra. Bà X chọn khởi kiện tại Tòa án đối với yêu cầu này, không yêu cầu cơ quan khác giải quyết. Ngày 25/10/2022, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu bà Văn Kim P trả lại lối đi có diện tích là 137,1m2 theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5206 ngày 18/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1. Yêu cầu bà Văn Kim P bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng phát sinh từ việc rào chắn như do không có đường đi nên không vận chuyển được trái cây (dâu, măng cụt, ...), không chăm sóc được cây trái đã làm hư hỏng, thiệt hại. Cụ thể gồm các khoản: Tiền công thuê mướn dọn cây chết, làm cỏ, vét mương khai nước: 4.550.000 đồng; Tiền cây ăn trái chết: 04 cây chôm chôm, 08 cây mít (trồng hơn 02 năm) giá mỗi cây khoảng 3.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 3.600.000 đồng; Tiền thiệt hại không thu hoạch được dâu, măng cụt là 1.850.000 đồng. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 825768 cấp ngày 18/7/2017 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 65 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai của bà Văn Kim P. - Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Văn Kim P trình bày: Hiện nay phần rào chắn con đường đi tiếp giáp thửa đất số 269 thì bà đã tháo dỡ vì đây là đường của Nhà nước theo bản đồ địa chính. Về yêu cầu khởi kiện của bà X thì bà có ý kiến: Bà X yêu cầu bà trả lối đi thì bà không đồng ý. Vì đường đi công cộng chỉ có đến hết thửa 269, còn lối đi trên thửa 270 đã được công nhận quyền sử dụng đất cho bà, không có đường đi và mương nước trên bản đồ địa chính, trước đây bà X đi nhờ qua đất của bà. Trước đây chồng bà là ông Đ1 mua đất của ông B, có nói với bà X là bán cho ông Đ1, kêu bà X mua lại đường đi nhưng bà X không mua nên ông Đ1 chưa xây hàng rào, cho đi tạm, khi nào bà xây thì không cho đi nữa. Trước khi chết thì chồng bà dặn bà là sau này rào lại là để bảo vệ cây kiểng, đồ công trình vì hay bị mất đồ nên bà rào lại. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Bà không đồng ý, vì bà rào trên các thửa đất thuộc quyền sở hữu của bà được nhà nước công nhận. Bà không gây thiệt hại gì cho bà X, cây trong vườn của bà X là do bà X tự phá bỏ và đốt, chứ không phải bị chết. Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 270 thì bà không đồng ý do thửa đất này đã được cấp đúng diện tích mà gia đình bà nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn B. Thửa 270 này không có lối đi công cộng, chỉ là cho đi nhờ mà thôi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger