Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 108/2024/DS-ST

Ngày 17 tháng 9 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Lý
  • 2. Ông Huỳnh Ích Trí

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 193/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V)
  • Địa chỉ trụ sở: Số A đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Phan S – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh K1 (Giấy ủy quyền số 480/UQ-VCB-PC ngày 14/10/2021);
  • Người nhận ủy quyền lại: Ông Huỳnh Thái K – Chức vụ: Trưởng phòng KHBL; Địa chỉ: Số A Q, phường L, thành phố N (Giấy ủy quyền số 181/UQ-VCB-KHH ngày 31/7/2023) (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Phạm Chí H, sinh năm: 1982
  • Nơi cư trú: Số C H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (có yêu cầu xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thái K trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng và phát hành thẻ tín dụng quốc tế loại thẻ Visa, số thẻ 412975***0182, hạn mức 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và thẻ Master, số thẻ 546285***2778, hạn mức 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), theo hình thức không có tài sản bảo đảm cho ông Phạm Chí H.

Quá trình sử dụng thẻ, ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên phát sinh nợ quá hạn đối với thẻ Master từ ngày 26/6/2021, phát sinh nợ quá hạn đối với thẻ Visa từ ngày 06/6/2021. Ngân hàng đã nhiều lần mời ông H đến làm việc, thường xuyên đôn đốc, liên lạc yêu cầu ông H thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng nhưng ông H vẫn không thực hiện. Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phạm Chí H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, tính đến ngày 17/9/2024 đối với cả 02 thẻ là 232.227.682 đồng và các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo 02 (hai) hợp đồng tín dụng đã ký. Trong đó:

  • - Gốc quá hạn: 100.790.246 đồng (Thẻ Visa: 3.251.738 đồng, Thẻ Master: 97.538.508 đồng);
  • - Lãi quá hạn: 39.964.927 đồng (Thẻ Visa: 1.149.863 đồng, Thẻ M: 38.815.064 đồng);
  • - Phí chậm trả và vượt hạn mức 91.472.509 đồng (Thẻ Visa: 3.094.302 đồng, Thẻ M: 88.378.207 đồng);

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thái K có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Phạm Chí H trình bày:

Ông xác nhận có ký Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, loại thẻ Visa ngày 24/9/2020 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, loại thẻ MasterCard ngày 21/12/2020 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh K1. Trong quá trình sử dụng 02 thẻ tín dụng trên, ông đã không thanh toán hết dư nợ thẻ tín dụng và để phát sinh nợ quá hạn. Ông đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ như Ngân hàng yêu cầu nhưng đề nghị được Ngân hàng xem xét giảm tiền lãi và phí phát sinh.

Ông Phạm chí H đề nghị xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N và ông Phạm Chí H có xác lập quan hệ hợp đồng tín dụng; tạm tính đến ngày 17/9/2024 ông H còn nợ Ngân hàng số tiền là 232.227.682 đồng; trong đó: Gốc quá hạn 100.790.246 đồng, lãi quá hạn 39.964.927 đồng, phí vượt hạn mức 91.472.509 đồng). Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ an được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Phạm Chí H; ông H có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thái K và bị đơn ông Phạm Chí H có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tính có hiệu lực của hợp đồng: Theo lời khai của các đương sự và tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện ông Phạm Chí H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có giao kết Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V cùng Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, loại thẻ Visa ngày 24/9/2020; Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V cùng Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, loại thẻ MasterCard ngày 21/12/2020. Xét các hợp đồng được hai bên tự nguyện giao kết, nội dung và hình thức không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực.

[3] Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ngày 24/9/2020 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ngày 21/12/2020 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì giữa chủ thẻ là ông Phạm Chí H với bên phát hành thẻ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có thỏa thuận về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V Visa, với hạn mức 40.000.000 đồng và thẻ tín dụng quốc tế V MasterCard, với hạn mức 150.000.000 đồng. Việc thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình sử dụng thẻ, ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên phát sinh nợ quá hạn đối với thẻ Master từ ngày 26/6/2021, phát sinh nợ quá hạn đối với thẻ Visa từ ngày 06/6/2021. Nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N yêu cầu ông H thanh toán khoản nợ gốc đối với thẻ Visa là 3.251.738 đồng và thẻ Master là 97.538.508 đồng, tổng cộng 100.790.246 đồng (Một trăm triệu bảy trăm chín mươi nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và cần được chấp nhận.

Về yêu cầu trả nợ lãi, phí chậm trả và vượt hạn mức: Căn cứ theo Điều 4 Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, việc Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông H sang nợ quá hạn từ ngày 26/6/2021 đối với thẻ Master và từ ngày 06/6/2021 đối với thẻ Visa là phù hợp. Như vậy, tính đến ngày 17/9/2024, số tiền lãi quá hạn đối với thẻ Visa là 1.149.863 đồng, đối với thẻ Master là 38.815.064 đồng; tổng tiền lãi quá hạn là 39.964.927 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng). Phí chậm trả và vượt hạn mức đối với thẻ Visa là 3.094.302 đồng, đối với thẻ Master là 88.378.207 đồng; tổng phí chậm trả và vượt hạn mức là 91.472.509 đồng (Chín mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm lẻ chín đồng). Ngân hàng đề nghị ông H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi quá hạn, phí phát sinh từ ngày 18/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất và biểu phí quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. H1 lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

Buộc bị đơn ông Phạm Chí H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 232.227.682 đồng (bằng chữ: Hai trăm ba mươi hai triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng);

trong đó: Gốc quá hạn 100.790.246 đồng, lãi quá hạn 39.964.927 đồng, phí vượt hạn mức 91.472.509 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2024), ông Phạm Chí H còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn, phí phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ngày 24/9/2020 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ngày 21/12/2020 đến khi trả hết nợ vay.

2. Về án phí: Bị đơn ông Phạm Chí H phải chịu 11.611.384 đồng (Mười một triệu sáu trăm mười một nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí là 4.585.000 đồng (Bốn triệu năm trăm tám mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0002266 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Nguyên Châu

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 108/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger