|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 108/2024/DS-PT Ngày: 21-6-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng hứa thưởng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Mai Chăm – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng hứa thưởng”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 87/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1963
Địa chỉ: số B H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Hoài C, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ông Phạm Hoài T1, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
2
Bà Phạm Thị Hoài N2, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Bà Phạm Thị Hoài L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ông Phạm Hoài T2, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bà Phạm Thị Hoài D, sinh năm 1999
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
Ông Lê Văn B - Trưởng văn phòng luật sư Phương T3
Địa chỉ: Văn phòng L1 - Đoàn luật sư tỉnh B
Ông Chung Văn S, sinh năm 1953
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ông Trần Văn N3, sinh năm 1942
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Do có kháng cáo của: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N
Tại phiên toà, có mặt: ông Nguyễn Hoàng N, ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Hoài T1, ông Phạm Hoài T2, bà Phạm Thị Hoài D. Vắng mặt những người còn lại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/11/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N trình bày:
Ông quen biết với vợ chồng ông N1 và bà T thông qua một người quen tên Nguyễn Minh K nói về sự việc của nhà ông N1, bà T liên quan đến vụ đất đai diện tích 150.000m² với Công ty R. Ông N1, bà T nhờ ông giúp đỡ liên hệ với Công ty R để giải quyết hỗ trợ bồi thường do diện tích đất của vợ chồng ông N1, bà T bị thu hồi nên ông nhận lời. Qua đó, ông N1, bà T ủy quyền cho ông để giải quyết vụ tranh chấp theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/12/2019 và ngày 10/12/2019 thì trong hợp đồng không có mức phí thù lao. Ông và ông N1, bà T có ký hợp đồng pháp lý với ông nội dung cam kết là vợ chồng ông N1, bà Thứa thưởng cho ông 200.000.000 đồng tiền chi phí đi lại và 20% trên số tiền đòi được khi thỏa thuận được với Công ty R (Hợp đồng pháp lý này ông đưa cho ông Lê Văn B giữ, ông không giữ nên không có để nộp cho Tòa án). Khi ký hợp đồng ủy quyền, ông thực hiện các công việc như đi khảo sát đất, làm đơn từ văn bản, làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Văn Đ - Tổng giám đốc Tập đoàn R1 về việc thương lượng bồi thường. Trong quá trình thực hiện, ông chỉ nhận 30.000.000 đồng từ phía ông N1, bà T. Ngày 28/02/2020, ông N1 và bà T nhận số tiền 4.000.000.000 đồng từ Công ty R. Sau nhận tiền thì không thực hiện theo cam kết chi tiền hứa thường như đã cam kết cho ông. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông N1, bà T phải thanh toán cho ông những khoản sau: 1.000.000.000 đồng (trong đó có 800.000.000 đồng là tiền hứa thưởng hoa hồng 20% và 200.000.000 đồng là tiền chi phí đi lại); 488.281.250 đồng là tiền phúc lợi (tiền phạt chậm thanh toán) từ số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 28/02/2020 đến ngày 01/3/2024; 150.000.000 đồng là tiền tổn hại về thần kinh, sức khỏe, danh dự. Tổng cộng ông yêu cầu ông N1 và bà T bồi thường cho ông số tiền 1.638.281.250 đồng.
3
Bị đơn ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Do gia đình ông bà có 15ha ở khu V, thôn L, xã H, huyện H, đất thuộc quản lý của nhà nước. Vợ chồng ông bà cùng các con nuôi dê, nuôi bò trên đất này hơn 20 năm nay. Tới năm 2008 thì Nhà nước giao cho Công ty R để làm khu du lịch rừng dầu, qua nhiều lần thương lượng với Công ty R nhưng không thành do gia đình ông bà yêu cầu số tiền 10 tỷ đồng nên Công ty R không chấp nhận. Do không hiểu biết nên thông qua ông Nguyễn Minh K, ông bà có nhờ ông Nhỗ trợ về pháp lý, vì ông Nam giới t là nhà báo, luật sư nên hiểu biết.
Khi gặp thì ông N nói là ủy quyền cho ông N liên hệ để lấy tiền đền bù thiệt hại về việc thu hồi đất không chăn nuôi được. Ông N nói với vợ chồng ông bà là ông sẽ đòi được 10 tỷ từ công ty R. Vợ chồng ông bà nói nếu đòi được 10 tỷ thì sẽ trích 2% hoa hồng cho ông N từ số tiền 10 tỷ, còn không được 10 tỷ thì không được hưởng hoa hồng mà chỉ cho tiền nước, chi phí đi lại và thường phần nào đó. Thỏa thuận này không lập biên bản, vợ chồng ông bà và ông N chỉ thỏa thuận miệng chứ không có lập biên bản. Vợ chồng ông bà có ký giấy ủy quyền cho ông N nội dung vợ chồng ông bà ủy quyền cho ông N thay mặt vợ chồng ông bà để liên hệ với Công ty R giải quyết vấn đề hỗ trợ bồi thường đối với 15 ha đất bị thu hồi trên. Hai bên ký hợp đồng ủy quyền ngày 04/12/2019 và 11/12/2019 tại Ủy ban nhân dân xã H. Năm 2008 thì Công ty R có thương lượng với vợ chồng ông bà giá 6.000.000 đồng/ mẫu nhưng ông bà không đồng ý, tiếp theo Rạng Đ1 tiếp tục thương lượng nhiều lần nữa nhưng không thành công. Năm 2018, Công ty R chấp nhận 3 tỷ đồng thì ông bà không đồng ý mà đòi 10 tỷ đồng nhưng Công ty R không chấp nhận. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền với ông N, vợ chồng ông bà không biết ông N làm việc như thế nào nhưng ông N nói lấy 4 tỷ/ 12 ha, còn 03 ha để ông N đi khởi kiện tiếp lấy tiền 3 ha còn lại thì vợ chồng ông bà đồng ý nhận 4 tỷ đồng từ Công ty R.
4
Sau khi ký ủy quyền, ông bà không biết ông N làm công việc gì, chỉ biết là ông N tới đất nhưng bị nhân viên của Công ty R không cho vào, còn ông N có làm việc Rạng Đông hay không thì ông bà không biết. Vợ chồng ông bà nhận tiền của Công ty R vào ngày 28/02/2020, nhận tại trụ sở Công ty R, sau đó nhân viên của công ty cho xe hộ tống vợ chồng ông bà và tiền nhận về nhà.
Quá trình ủy quyền thì ông N đòi tiền của ông bà rất nhiều lần, tổng cộng ông N đã lấy của vợ chồng ông bà 130.000.000 đồng. Lần đầu tiên thì ông N nhận 30.000.000 đồng thì ông N có ký nhận, còn mấy lần sau ông N yêu cầu ông bà đem tiền tới nhà ông N hoặc tới quán cà phê hay ở dọc đường, vợ chồng ông bà đưa tiền và yêu cầu ông N ký nhận tiền nhưng ông N không ký nói đây là tiền hỗ trợ tiền xăng xe đi đường. Sau khi nhận 4 tỷ đồng, do không đòi được số tiền 10 tỷ đồng đúng theo thỏa thuận, nên vợ chồng ông bà có chi 100.000.000 đồng bồi dưỡng. Trong đó ông N 80.000.000 đồng, ông luật sư Lê Văn B 20.000.000 đồng. Nhưng chỉ có ông B nhận 20 triệu còn ông N không nhận 80 triệu. Ông B tham gia là do ông Nam giới t chứ ông bà không nhờ ông B, ông N gọi ông B tham gia. Ông N nói ông B thân thiết với ông Nguyễn Văn Đ (Chủ tịch Tập đoàn R1) nên có thể đòi được 10 tỷ chứ ông bà không nhờ ông B. Lý do đưa cho ông B nhận tiền là do sau khi giúp không được 10 tỷ thì ông B nói vợ chồng ông bà hỗ trợ bao nhiêu thì tùy tâm, nên vợ chồng ông bà đưa cho ông B 20 triệu. Tổng diện tích đất 12 ha gia đình ông bà gồm 02 vợ chồng và 06 người con cùng chăn nuôi bò, dê nên số tiền hỗ trợ 4 tỷ đồng trên là có phần của 6 người con nữa chứ không phải riêng của hai vợ chồng. Ông bà chỉ đại diện cho các con nhận 4 tỷ từ R. Sau khi nhận tiền xong thì ông bà dùng một phần để trả nợ, còn lại chia hết cho các con. Nay theo yêu cầu khởi của ông N, ông bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông N. Ông bà chỉ đồng ý hỗ trợ cho ông N là 80.000.000 đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoài T1, bà Phạm Thị Hoài N2, bà Phạm Thị Hoài L, ông Phạm Hoài T2 và bà Phạm Thị Hoài D: Thống nhất với lời trình bày của bị đơn.
Người làm chứng Nguyễn Minh K trình bày:
Ông N1 và bà T là hàng xóm của ông, ông N là người quen của ông. Ông N1, bà T nhờ ông N thực hiện công việc trên là do ông giới thiệu ông N cho ông N1, bà T liên hệ. Tại đơn xác nhận sự thật ngày 06/12/2023 là do ông ký tên, nhưng đơn này là do ông N soạn sẵn đưa cho ông ký thì ông ký chứ không đọc kỹ, tại phiên tòa sau khi được công bố nội dung đơn trên thì ông cho rằng không đúng sự thật. Tại phiên tòa ông xin đính chính lại như sau: Ông không hề nghe hay biết được ông N1, bà T nói trích thưởng cho ông N 20% trên tổng số tiền đòi được và 200.000.000 đồng chi phí quan hệ, giao dịch. Nội dung trong đơn xác nhận trên là sai sự thật, do ông ký mà không đọc kỹ. Do vậy ông xin đính chính lại nội dung trên. Ông chỉ là người giới thiệu cho các bên gặp nhau, ngoài ra không biết gì cả.
Người làm chứng ông Trần Văn N3 trình bày:
Ông chỉ biết ông N đại diện cho ông N3, bà T liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền đòi tiền hỗ trợ cho ông N3, bà T và có chứng kiến việc ông N3, bà T đưa cho ông N 30.000.000 đồng tại nhà ông. Ngoài ra ông không biết gì thêm.
5
Người làm chứng ông Chung Văn S trình bày:
Ông chỉ biết ông N đại diện cho ông N3, bà T liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền đòi tiền hỗ trợ cho ông N3, bà T và có chứng kiến việc ông N3, bà T đưa cho ông N 7.000.000 đông. Ngoài ra ông không biết gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 159, Điều 160; Điều 161; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 281; Điều 570; Điều 572; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N
Ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng N số tiền 80.000.000 đồng tiền hứa thưởng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng N đối với yêu cầu ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T thanh toán tổng số tiền 1.558.281.250 đồng (bao gồm 200.000.000 đồng chi phí đi lại; 720.000.000 đồng tiền hứa thưởng; 488.281.250 đồng tiền phạt; 150.000.000 đồng chi phí tiêu hại về tài sản, sức khỏe, uy tín)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/4/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, đơn kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
6
- Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Tại phiên tòa, vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoài C, bà Phạm Thị Hoài N2 và bà Phạm Thị Hoài L, nhưng ông C đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N2, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N yêu cầu có mặt người làm chứng ông Lê Văn B, xét thấy trong hồ sơ vụ án người làm chứng Lê Văn B đã có lời khai trong 02 biên bản lấy lời khai ngày 01/8/2023 và ngày 13/3/2024 không mâu thuẫn nhau nên yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận.
[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Hoàng N thay đổi kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Xét thấy việc thay đổi của người kháng cáo không vượt quá yêu cầu kháng cáo nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Bị đơn ông Nguyễn Văn N4, bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N để làm việc với cơ quan có thẩm quyền, tập đoàn R1 và ông Nguyễn Văn Đ giải quyết về đất đai với diện tích 150.000 m² tại G, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy ủy quyền ngày 04/12/2019, ngày 10/12/2019.
[3.2] Ông N cho rằng ngoài giấy ủy quyền trên thì các bên có lập một văn bản khác thế hiện việc ông N sẽ được hưởng 20% trên tổng số tiền đòi được và 200.000.000 đồng tiền đi lại, nhưng văn bản này đã đưa cho Luật sư Lê Văn B nên ông không thể cung cấp được cho Tòa án.
7
[3.3] Vợ chồng bị đơn khai giữa ông bà và ông N có việc hứa thưởng nhưng chỉ hứa thưởng miệng, không lập thành văn bản với nội dung: Ông N đòi được 10 tỷ đồng tiền bồi thường trên 15 mẫu đất bị thu hồi thì ông N được hưởng 2% trên số tiền 10 tỷ và hỗ trợ tiền đi lại, còn nếu không được 10 tỷ thì chỉ hỗ trợ chi phí đi lại và bồi dưỡng phần nào đó phù hợp với công sức ông N bỏ ra.
[3.4] Thực tế, ông N đã thực hiện công việc theo giấy ủy quyền và Tập đoàn R1 đã hỗ trợ bồi thường cho vợ chồng ông N4, bà T số tiền 04 tỷ đồng. Sau khi nhận số tiền bồi thường trên thì ông N4, bà T không thực hiện việc hứa thưởng 20% trên tổng số tiền đòi được và 200.000.000 đồng tiền chi phí đi lại nên ông N đã khởi kiện.
[4] Về Hợp đồng hứa thưởng giữa các bên: Bị đơn cho rằng các bên chỉ hứa thưởng bằng miệng, không lập thành văn bản pháp lý. Nguyên đơn lại cho rằng, các bên có ký với nhau thành Văn bản nhưng hiện tại Văn bản này ông Lê Văn B đang giữ nên không cung cấp được cho Tòa án. Đối với nội dung này, ông Lê Văn B bác bỏ và phía bị đơn cũng không thừa nhận. Do vậy, đủ cơ sở khẳng định giữa hai bên không ký kết hợp đồng pháp lý bằng văn bản nào thể hiện về việc hứa thưởng như lời nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N đã trình bày.
[5] Đối với “Đơn xác nhận khẳng định không hỗ trợ tặng thưởng” ngày 29/12/2020, sau khi có kết quả giám định đã xác định là do ông N4 và bà T ký, ghi rõ họ tên, có nội dung: “Ông Nguyễn Hoàng N sẽ được vợ chồng ông N4, bà T thưởng 20% trên số tiền đòi được (tức 800.000.000 đồng) và 200.000.000 đồng”. Nội dung này hoàn toàn khác với những nội dung mà bị đơn đã khai. Hơn nữa, trước khi ủy quyền cho ông N thì giữa gia đình ông N4 bà T và Tập đoàn R1 có thỏa thuận bồi thường, bên R đề xuất bồi thường 03 tỷ đồng nhưng gia đình ông N4 yêu cầu 10 tỷ đồng thể hiện nguyện vọng của gia đình ông N4 là yêu cầu bồi thường 10 tỷ chứ không phải 04 tỷ như kết quả ông N thỏa thuận đạt được, đồng thời theo lẽ thường việc hứa thường phải diễn ra tại thời điểm các bên lập văn bản ủy quyền hoặc trước thời điểm nhận tiền bồi thường. Tuy nhiên, ngày ký đơn xác nhận lại là ngày 29/02/2020, sau khi bị đơn ông N4, bà T đã nhận tiền bồi thường ngày 28/02/2020.
[6] Tại Công văn số 908/CV/DAĐT-RĐ ngày 20/7/2023 của Tập đoàn R1 thể hiện việc lập hồ sơ hỗ trợ đền bù do Công ty lập dựa trên ý kiến thống nhất giữa công ty và gia đình ông N4, việc đo đạc đất là do công ty đo đạc theo sự chỉ ranh của ông N4 và số tiền 4 tỷ là hỗ trợ cho cả gia đình ông N4, bà T là bao gồm vợ chồng ông N4 cùng 06 người con của ông bà. Nhưng tại hợp đồng ủy quyền của các con ông N4 chỉ ủy quyền cho ông N4 bà T, không có nội dung ông N4, bà T được quyền ủy quyền lại cho người thứ ba. Do vậy, việc hứa thường chỉ xảy ra giữa ông N4, bà T và ông N.
[7] Các bên đều thừa nhận với nhau có việc bị đơn ủy quyền cho nguyên đơn để thực hiện các công việc liên quan đến tiền bồi thường ở Công ty R và việc này cũng thể hiện tại Giấy ủy quyền ngày 04/12/2019, ngày 10/12/2019. Tuy ông N không thực hiện được trọn vẹn mong muốn của bị đơn nhưng thực tế ông N có thực hiện công việc được ủy quyền, liên hệ làm việc với Công ty R và các công việc khác có liên quan nên ông N cũng phải được hưởng một phần công sức.
8
[8] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông N4, bà T chỉ đồng ý thanh toán cho ông N 80.000.000 đồng như ban đầu vì số lượng các công việc ông N không nhiều, công sức bỏ ra không đáng kể và chỉ làm trong thời gian từ ngày 04/12/2019 đến ngày 28/02/2020. Ông N4, bà T còn khai rằng trước đó đã tạm ứng cho ông N chi phí đi lại 30.000.000 đồng vào ngày 06/12/2019 (ông N4 bà T khai rằng đưa trước cho ông N 130.000.000 đồng nhưng không có căn cứ nào chứng minh và cũng không được ông N thừa nhận) và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chấp nhận thanh toán cho ông N số tiền 80.000.000 đồng tiền thưởng là tương xứng với công sức ông N bỏ ra.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận việc bị đơn thanh toán cho ông N số tiền 80.000.000 đồng và không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn ông N về việc yêu cầu ông N4, bà T thanh toán tổng số tiền 1.558.281.250 đồng (bao gồm 200.000.000 đồng chi phí đi lại; 720.000.000 đồng tiền hứa thưởng; 488.281.250 đồng tiền phạt; 150.000.000 đồng chi phí tiêu hại về tài sản, sức khỏe, uy tín) là đúng pháp luật
[9] Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của của ông Nguyễn Hoàng N nhưng không có chứng cứ gì mới để chứng minh, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, do ông Nguyễn Hoàng N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông N theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Căn cứ: Điều 147, Điều 159, Điều 160; Điều 161; khoản 01 Điều 227, khoản 01 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 281; Điều 570; Điều 572; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
9
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N.
Ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng N số tiền 80.000.000 đồng tiền hứa thưởng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng N đối với yêu cầu ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T thanh toán tổng số tiền 1.558.281.250 đồng (bao gồm 200.000.000 đồng chi phí đi lại; 720.000.000 đồng tiền hứa thưởng; 488.281.250 đồng tiền phạt; 150.000.000 đồng chi phí tiêu hại về tài sản, sức khỏe, uy tín)
Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Về chi phí giám định: Ông Phạm Văn N1 và bà Nguyễn Thị T hoàn trả lại cho ông N số tiền 2.400.000 đồng tiền chi phí giám định.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (21/6/2024)
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
10
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Văn Thành |
Lê Minh Tuấn |
|
Nguyễn Lê Phương |
Bản án số 108/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng hứa thưởng
- Số bản án: 108/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hứa thưởng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông quen biết với vợ chồng ông N1 và bà T thông qua một người quen tên Nguyễn Minh K nói về sự việc của nhà ông N1, bà T liên quan đến vụ đất đai diện tích 150.000m2 với Công ty R. Ông N1, bà T nhờ ông giúp đỡ liên hệ với Công ty R để giải quyết hỗ trợ bồi thường do diện tích đất của vợ chồng ông N1, bà T bị thu hồi nên ông nhận lời. Qua đó, ông N1, bà T ủy quyền cho ông để giải quyết vụ tranh chấp theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/12/2019 và ngày 10/12/2019 thì trong hợp đồng không có mức phí thù lao. Ông và ông N1, bà T có ký hợp đồng pháp lý với ông nội dung cam kết là vợ chồng ông N1, bà T hứa thưởng cho ông 200.000.000 đồng tiền chi phí đi lại và 20% trên số tiền đòi được khi thỏa thuận được với Công ty R (Hợp đồng pháp lý này ông đưa cho ông Lê Văn B giữ, ông không giữ nên không có để nộp cho Tòa án). Khi ký hợp đồng ủy quyền, ông thực hiện các công việc như đi khảo sát đất, làm đơn từ văn bản, làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Văn Đ - Tổng giám đốc Tập đoàn R1 về việc thương lượng bồi thường. Trong quá trình thực hiện, ông chỉ nhận 30.000.000 đồng từ phía ông N1, bà T. Ngày 28/02/2020, ông N1 và bà T nhận số tiền 4.000.000.000 đồng từ Công ty R. Sau nhận tiền thì không thực hiện theo cam kết chi tiền hứa thưởng như đã cam kết cho ông. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông N1, bà T phải thanh toán cho ông những khoản sau: 1.000.000.000 đồng (trong đó có 800.000.000 đồng là tiền hứa thưởng hoa hồng 20% và 200.000.000 đồng là tiền chi phí đi lại); 488.281.250 đồng là tiền phúc lợi (tiền phạt chậm thanh toán) từ số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 28/02/2020 đến ngày 01/3/2024; 150.000.000 đồng là tiền tổn hại về thần kinh, sức khỏe, danh dự. Tổng cộng ông yêu cầu ông N1 và bà T bồi thường cho ông số tiền 1.638.281.250 đồng.
