|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2023/HSST Ngày: 25 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Lan;
- Ông Lương Minh Côn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại hai điểm cầu: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và Công an huyện Đ, tiến hành xét xử theo hình thức trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 07/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXX ngày 10/8/2023, đối với bị cáo:
Đặng Hùng S; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1969;
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/10. Con ông: Đặng Xuân T (đã chết); con bà: Đặng Thị L, sinh năm 1945; bị cáo có 07 anh, chị, em. S1 là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị Như N (đã ly hôn); có 02 con chung (con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009).
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Đặng Hùng S2 bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. – Có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Triệu Văn V, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm T, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người chứng kiến: Ông Nông Văn H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Xóm C, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/6/2023, tổ công tác của Công an Y, huyện Đ tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xã Y, huyện Đ, thì phát hiện tại khu vực đường bê tông thuộc xóm C, xã Y một người nam giới đang điều khiển xe mô tô BKS 98L6 - 1730 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra đối với người nam giới thì người đàn ông chấp hành và khai tên là Đặng Hùng S2, sinh năm 1969, trú tại xóm Đ, xã Y, huyện Đ. Quá trình kiểm tra, S2 tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói nhỏ được gói bằng giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng S2 đang cầm ở lòng bàn tay trái. Theo S2 khai toàn bộ số chất rắn màu trắng là ma túy loại Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S2, niêm phong, thu giữ vật chứng ký hiệu A theo đúng quy định rồi chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.
Hồi 17 giờ 10 phút ngày 02/6/2023, Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Đặng Hùng S2 tại xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K, Công an tỉnh T (PC09) đã tiến hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu A cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Đặng Hùng S2. Kết quả: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A lên cân điện tử có khối lượng là: 0,226 gam (đã trừ bì), lấy tất cả số chất rắn màu trắng có trong phong bì ký hiệu A để làm mẫu giám định, được cho vào phong bì niêm phong có ký hiệu A1. Mẫu giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 được gửi giám định tại phòng PC09 – Công an tỉnh T. Vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 phục vụ công tác điều tra.
Ngày 02/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 168/CSĐT đối với mẫu niêm phong ký hiệu A1 thu của Đặng Hùng S2, yêu cầu giám định để xác định: Mẫu giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy? Khối lượng thu giữ ban đầu là bao nhiêu?
Tại Bản kết luận giám định số: 758/KL - KTHS ngày 10/6/2023, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- - Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của C phủ các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,226 gam;
- - H1 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Hùng S2 khai nhận:
Là người nghiện chất ma túy nhiều năm nên khoảng 11 giờ ngày 02/6/2023, S2 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 98L6 – 1730 ra khu vực đoạn đường Quốc lộ 37 thuộc xóm Đ, xã Y, huyện Đ với mục đích để tìm mua chất ma túy sử dụng cho bản thân. S2 gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi và hỏi mua 300.000đ ma túy, người đàn ông đồng ý. Người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho S2 02 gói ma túy được gói bằng giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng loại Heroine. Khi mua xong, S2 cầm hai gói ma túy trên tay trái tìm nơi để sử dụng, khi đang đến khu vực xóm C thì bị phát hiện bắt quả tang. S2 đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho Cơ quan Công an. Mục đích S2 mua ma tuý là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích mua bán.
Vật chứng của vụ án: 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2, bên trong chứa số ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) xe mô tô Honda Dream, BKS 98L6 - 1730, đã qua sử dụng. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số:104/CT – VKS ĐT ngày 07/8/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Đặng Hùng S2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- - Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.
Xét về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên là người nghiện ma túy.
Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo được hưởng 01 tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Hùng S2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Hùng S2 từ 18 đến 24 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: Số Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu.
Trả lại cho anh Triệu Văn V chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 98L6 - 1730 quản lý sử dụng, do anh V không biết S2 sử dụng xe đi mua ma tuý.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án và phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo và đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, người liên quan không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[1.2]. Xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án: Liên quan đến chiếc xe mô tô BKS 98L6 – 1730 hiệu Honda Dream của anh Triệu Văn V đăng ký mang tên Thân Văn T1, sinh năm 1978, trú tại: Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, anh T1 xác định đã bán xe vào năm 2022 cho anh Triệu Văn V với giá 1.000.000đ. Anh T1 xác định đã bán nên không còn thuộc quyền sở hữu đối với tài sản. Anh Triệu Văn V xác định mua xe vào năm 2022, chưa sang tên. Ngày 02/6/2023 anh cho Đặng Hùng S2 mượn để đi lại. Do vậy, xác định anh T1 không liên quan, anh Triệu Văn V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án.
[1.3]. Người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt mặt tại phiên toà có đơn xin xét xử vắng mặt. Người chứng kiến vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng nêu trên. Xét việc vắng mặt người tham gia tố tụng khác không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
[2]. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Đặng Hùng S2 khai là người nghiện ma tuý, ngày 02/6/2023, S2 mượn xe mô tô BKS 98L6 – 1730 hiệu Honda Dream của anh Triệu Văn V, mục đích mua ma túy để sử dụng, S2 không nói cho anh V biết sử dụng xe mô tô đi mua ma túy. Khi đến khu vực đoạn đường Quốc lộ 37 thuộc xóm Đ, xã Y, huyện Đ, S2 gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi và hỏi mua 300.000đ ma túy, được họ đưa cho S2 02 gói được gói bằng giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng loại Heroine. Khi mua xong, S2 cầm hai gói ma túy trên tay trái tìm nơi để sử dụng, khi đang đến khu vực xóm C thì bị phát hiện bắt quả tang. Việc bắt quả tang, cân trọng lượng ma túy được 0,226 gam bị cáo xác định hoàn đúng sự thật và được chứng kiến cân trọng lượng cũng như thông báo kết luận giám định về loại, chất ma túy. Quá trình thực hiện việc mua ma tuý, không có đồng phạm cùng tham gia, thực hiện với bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Hùng S2 tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Hùng S2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,226 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Y, huyện Đ bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo cũng xác định mua ma tuý để phục vụ nghiện, không có mục đích mua bán.
[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Đặng Hùng S2 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:………
c) Heroine, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (loại Heroine) bị cáo tàng trữ được giám định có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất tuyệt đối cấm hoặc chỉ sử dụng trong y học, được quy định 4 danh mục trong Nghị định.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, bởi Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, và của toàn xã hội. Việc mở phiên toà xét xử đối với bị cáo là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo một thời gian nhất định để làm gương răn đe chung.
[6].Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
[8]. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Văn V xác định xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, màu sơn nâu, BKS 98L6 - 1730. Ngày 02/6/2023 Đặng Hùng S2 mượn xe không nói đi đâu, việc S2 sử dụng để đi mua đi mua ma túy anh không biết. Nay anh đề nghị Hội đồng xét xử cho xin lại vì chiếc xe là phương tiện duy nhất anh để đi làm. Hội đồng xét xử thấy rằng, mặc dù bị cáo S2 sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nhưng anh V không hề biết xe được dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần trả lại cho anh V chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA ADREAM, màu sơn nâu, BKS 98L6 - 1730.
[9]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là 0,218 gam Heroine, các vật chứng khác đã thu giữ cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Trả lại 01 Xe mô tô HONDA DREAM, màu sơn nâu, BKS 98L6 - 1730. Ngày 02/6/2023 cho anh Triệu Văn V quản lý, sử dụng.
[10]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định.
[11].Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Đặng Hùng S2, theo bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ tại khu vực xóm Đ, xã Y, huyện Đ với số tiền 300.000đ. Do không xác định được lai lịch địa chỉ của người bán ma túy cho S2 nên không có căn cứ điều tra, xử lý người bán ma túy nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Hùng S2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Đặng Hùng S2 20 (Hai mươi) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2023.
* Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Đặng Hùng S2 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Đặng Hùng S2.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
-
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 còn nguyên tình trạng niêm phong.
(Theo biên bản đóng gói, niêm phong giao nhận lại đối tượng giám định ngày 10/6/2023, giữa Phòng K Công an tỉnh T với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ghi: Hoàn lại 0,218 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong ký hiệu A1).
-
Trả lại anh Triệu Văn V:
01 Xe mô tô HONDA DREAM, màu sơn nâu, BKS 98L6 - 1730.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 09/8/2023).
-
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 còn nguyên tình trạng niêm phong.
-
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Đa Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Hùng S2 phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luạt Tố tụng Hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh V) tại phiên toà. Báo cho biết, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 108/2023/HSST ngày 25/08/2023 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 108/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo nghiện ma túy mua về sử dụng bị bắt quả tang
