TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2023/HS-ST
Ngày: 26-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bá Đình Tâm
- Ông Trần Ngọc Đổi
- Thư ký phiên tòa: Ông Đa Văn Thắng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên
(Tham gia tại điểm cầu trung tâm)
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm trực tuyến (Tại điểm cầu trung tâm-Trụ sở TAND huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần-Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Trung Ngh, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Thuận.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 8, khu phố 2, thị trấn CL, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lê S, sinh năm 1964 và bà Lâm Thị H, sinh năm 1964;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/10/2023 đến ngày 17/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần).
- Những người tham gia tố tụng khác:
- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Bá Văn Nhân
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Huỳnh Thanh Phước.
- Chiến sỹ Công an huyện Bắc Bình: Trần Hiều, Nguyễn Tấn Đắng, Đặng Tuấn Tài.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/10/2023, Lê Trung Ng (sinh ngày: 12/7/1991) đang ở nhà của Ngh tại khu phố 2, thị trấn CL, huyện B, tỉnh Bình Thuận, Ng mượn điện thoại của mẹ ruột gọi cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) ở xóm 6, thôn T, xã HT, huyện B để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng (mẹ Ngh không biết Ngh mượn điện thoại mua ma túy). Người thanh niên đồng ý bán ma túy cho Ngh và hẹn Ngh đến xóm 6, thôn T, xã HT, B giao ma túy. Sau đó, Ngh mượn xe mô tô biển số 86B2-372.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng của Huỳnh Thanh Tr (tên thường gọi là Tem, sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã PH, huyện B, tỉnh Bình Thuận) đang cắt thanh long ở gần nhà Ngh và nói với Tr là mượn đi chở củi. Ngh điều khiển xe mô tô biển số 86B2-372.54 đến đường vào xóm 6, thuộc thôn T, xã HT, huyện B thì gặp người thanh niên đã hẹn trước. Ngh lấy tiền 300.000 đồng đưa cho người thanh niên này và người thanh niên lấy 01 bịch ma túy đá đưa cho Ngh, Ngh cầm bịch ma túy đá trên tay phải rồi chạy xe về nhà. Khi Ngh về gần đến nhà vào khoảng 17 giờ 00 phút, cùng ngày 11/10/2023 thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn CL đang tiến hành tuần tra đến đường đất bên hông cơ sở thu mua thanh long Tâm Thành thuộc khu phố 2, thị trấn CL, huyện B phát hiện Ngh đang điều khiển xe mô tô biển số 86B2-372.54 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Ngh liền thả xuống đường ngay chỗ Ngh đang đứng 01 (một) bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, bên trong bịch nhựa có chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ. Ngh khai nhận là ma túy đá của Ngh vừa mua về mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 (một) bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, bên trong bịch nhựa có chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng và 01 xe mô tô biển số 86B2-372.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng đồng thời đưa tất cả về trụ sở làm việc để xác minh, làm rõ.
Tại bản kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 14/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: 01 phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn; bên trong phong bì có 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8x1,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, (ký hiệu M).
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1327 gam; là Methamphetamine.
Lời khai nhận của Lê Trung Ngh phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang có thu giữ tang, vật chứng; kết quả giám định chất ma tuý; phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Đủ cơ sở xác định: Lê Trung Ngh có hành vi tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng 0,1327 gam; là Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Quá trình điều tra, Lê Trung Ngh còn khai nhận mua ma túy của người thanh niên xóm 6, thôn T, xã HT, B 02 lần đến 05 lần với số tiền mỗi lần từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng mục đích để sử dụng. Tuy nhiên, do chỉ có lời khai của Ngh và số ma túy mua về Ngh đã sử dụng hết, không thu giữ được nên chưa đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhiều lần đối với Ngh.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0723 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1231 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện B để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 118/CT-VKS.HBB ngày 15/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Lê Trung Ngh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Ngh từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về xử lý tang, vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tịch thu tiêu hủy:
01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0723 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1231 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 11/10/2023 tại khu phố 2, thị trấn CL, huyện B do Lê Trung Ngh tàng trữ 01 bịch ma túy đá (Methamphetamine) có khối lượng 0,1327 gam. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khăng định hành vi của bị cáo Lê Trung Ngh đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi bị bắt và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thời gian sử dụng ma túy kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[4]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm hại tới chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà Nước mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hình vi vi phạm pháp luật, nhưng vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật.
[6]. Về xử lý tang, vật chứng: 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0723 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1231 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Ngh 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2023.
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,8 x 1,5)cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0723 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1231 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận
(Theo Biên bản giao nhận ngày 22/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình).
* Về án phí:
Buộc bị cáo Lê Trung Ngh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/12/2023).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thanh Trúc Tuyền |
Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 108/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Ngh tàng trữ 01 bịch ma túy đá (Methamphetamine) có khối lượng 0,1327 gam
