|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2023/DS-PT Ngày: 25/10/2023 “V/v Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải, bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18/10/2023 và 25/10/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 103/2022/TLPT-DS ngày 24/11/2022 về việc “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXPT-DS ngày 05/9/2023, giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
- - Anh Hồ Thân T, sinh năm 1983 và chị Hồ Thị H, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đều vắng mặt.
- - Anh Ngô Quang T1, sinh năm 1973 và chị Chu Thị H1, sinh năm 1973. Cùng địa chỉ: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1960. Địa chỉ: khối C, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Đồng bị đơn:
- - Anh Trần Quý Q, sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị Tuyết M (tên gọi khác: Nguyễn Thị M), sinh năm 1975.
- Nơi ĐKHKTT: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Địa chỉ hiện nay: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L – Luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị L1, sinh năm 1966
- - Chị Trần Thị Khánh T2, sinh năm 1985
- - Anh Trần Quý D, sinh năm 1987
Cùng địa chỉ: khối G, thị trấn C, huyện Q, tỉnh nghệ An. Đều vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Quý Q
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là bà Hoàng Thị N trình bày:
Ngày 21/9/2019, vợ chồng anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H, anh Trần Quý D đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh D chuyển nhượng cho vợ chồng anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H 207,5m² đất tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7. Ngày 17/10/2019 chị Trần Thị Khánh T2 chuyển nhượng cho vợ chồng anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 206,6m² đất tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7. Các thửa đất trên đều có địa chỉ tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và có vị trí liền kề nhau. Anh T, chị H đã được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ531679 ngày 28/10/2019 mang tên Hồ Thân T và Hồ Thị H. Anh T1, chị H1 đã được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ531678 ngày 29/10/2019 mang tên Ngô Quang T1 và Chu Thị H1.
Từ khi các nguyên đơn mua đất do anh D, chị T2 chuyển nhượng cho đến nay mặt bằng thửa đất không có gì thay đổi, không có ai tranh chấp. Khi nhận chuyển nhượng đất thì trên đất đã có một số tài sản của vợ chồng anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M xây dựng (hầm đựng rượu). Bà L1, anh D, chị T2 là những người chuyển nhượng đất cam kết sẽ yêu cầu anh Q, chị M tháo dỡ công trình xây trên đất và chuyển toàn bộ tài sản của anh Q ra khỏi thửa đất vào cuối tháng 12/2019 để anh T, chị H, anh T1, chị H1 sử dụng đất được thuận tiện nhưng cho đến nay bên bán đất, bên mua đất đã yêu cầu nhiều lần nhưng anh Q, chị M vẫn chưa được tháo dỡ. Từ sau khi chuyển nhượng anh Q và chị M có xây dựng thêm tài sản gì thì các nguyên đơn không biết. Các nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng anh Q, chị M tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên hai thửa đất, để bàn giao mặt bằng, đến tháng 5/2021 UBND xã cũng đã hòa giải để anh Q, chị M tháo dỡ nhưng không được.
Tại đơn khởi kiện anh T, chị H, anh T1, chị H1 yêu cầu vợ chồng anh Q, chị M phải tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất, chuyển toàn bộ tài sản ra khỏi các thửa đất thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và trả lại cho anh T, chị H thửa đất số 95, trả lại cho anh T1, chị H1 thửa đất số 94 để sử dụng. Khi chuyển nhượng đất giữa vợ chồng anh T, chị H, vợ chồng anh T1, chị H1 và anh D, chị T2 thì mặt bằng thửa đất như hiện trạng thời gian này, việc bồi trúc đã có khi mua đất, giá đất khi chuyển nhượng là giá diện tích đất có mặt bằng như hiện trạng. Đề nghị Tòa án giải quyết quyền, nghĩa vụ của bà L1, anh D, chị T2 đối với anh Q, chị M nếu có. Tuy nhiên để tránh thiệt hại về tài sản cho bị đơn, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ các tài sản xây dựng trái phép trên đất và đề nghị được mua lại tài sản trên đất do anh Q, chị M xây dựng theo các Biên bản định giá ngày 16/11/2022, được sử dụng chung các tài sản cụ thể như sau:
Các tài sản nằm trên hai thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An gồm có:
- 01 nhà cấp 4, mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng, phần bếp lát gạch liên doanh, gồm 1 kho, 1 gian đựng rượu bằng khung sắt, 2 phòng ngủ, 1 bếp, móng nhà cao 1,5m diện tích rộng 5,5m, dài 19,94m, diện tích 109,67 m² trị giá 156.060.000 đồng; Phần móng nhà cao 50cm, xây đá (phần vượt quá 1m) khối lượng 11m³ giá 5.500.000 đồng (Phần từ 1m trở xuống được tính vào giá trị nhà); 01 sân láng bê tông, dài 19,94m, rộng 22,8m, tổng diện tích 454,6m² trị giá 55.000.000 đồng; 01 mái che trước nhà dài cấp, không có chống nóng 15,96m, rộng 7m, diện tích 111,72m² trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép kích thước (3,67m x 15,96m) x cao 3,5m, diện tích 68,7m² trị giá 19.900.000 đồng; Tường quây tôn, kích thước 8,3m x 3,5m, diện tích 29,05m² trị giá 4.938.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 261.398.000 đồng. Các tài sản này các nguyên đơn thống nhất sử dụng chung, anh T1 và chị H1 trích trả cho anh Q, chị M số tiền 130.699.000 đồng là giá trị các tài sản được sử dụng chung; anh T, chị H trích trả cho anh Q, chị M số tiền 130.699.000 đồng là giá trị các tài sản được sử dụng chung.
- Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T, chị H) gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với nhà quán anh Q, chị M dài 23,7m, rộng 4m, diện tích 94,8m² trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 2.366.000 đồng; 1 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 6m³ trị giá 3.930.000 đồng. Các tài sản này giao cho vợ chồng anh T, chị H sử dụng. Anh T, chị H có nghĩa vụ giao lại cho anh Q, chị M số tiền 26.393.000 đồng là giá trị các tài sản trên.
- Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T1, chị H1) gồm: 01 tường bao xây sò, dài 15,3m, cao 2m, diện tích 30,6m² trị giá 4.500.000 đồng; 02 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 4.723.000 đồng; 2 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 12m³ trị giá 7.860.000 đồng. Các tài sản này giao cho vợ chồng anh T1, chị H1 sử dụng. Anh T1, chị H1 có nghĩa vụ giao lại cho anh Q, chị M số tiền 18.446.000 đồng là giá trị các tài sản trên.
Đối với yêu cầu về công sức bồi trúc đất từ mặt ruộng của anh Q, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn giá trị bằng tiền, đơn giá 60.000đ/m³ trong phần diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đổ đất nằm trong hành lang an toàn giao thông bị đơn phải chịu. Anh T1, chị H1 đồng ý trả cho bị đơn số tiền 18.594.000 đồng (60.000₫ x 206,6m² x 1,5m). Anh T, chị H đồng ý trả cho bị đơn số tiền 18.675.000 đồng (60.000₫ x 207,5m² x 1,5m) là giá trị đất bồi trúc. Tổng cộng, vợ chồng anh T1, chị H1 có nghĩa vụ giao cho anh Q, chị M số tiền 167.739.000 đồng; vợ chồng anh T, chị H có nghĩa vụ giao cho anh Q, chị M số tiền 175.767.000 đồng.
Các nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu của bị đơn là phải bồi thường chi phí xây dựng công trình trên 02 thửa đất là 1.600.000.000 đồng và đồng ý mua lại các tài sản mà vợ chồng anh Q, chị M xây dựng trái phép trên 02 thửa đất theo giá đã định giá.
Tại bản tự khai ngày 02/7/2021, biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2022, đơn trình bày ý kiến ngày 28/9/2022 anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Đình Kim C trình bày:
Vào năm 2014, vợ chồng anh Trần Quý Q, chị Nguyễn Thị Tuyết M được bà Trần Thị L1, anh Trần Quý D và chị Trần Thị Khánh T2 cho mượn 02 thửa đất là 94 và 95, tờ bản đồ số 7 tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thời hạn lâu dài để mở rộng địa bàn và cơ sở kinh doanh. Việc cho mượn không có giấy tờ, không lập thành văn bản, nhưng lúc đó có bà L1, các anh chị em trong gia đình chứng kiến. Sau khi mượn đất, vào năm 2014 anh Q và chị M đã thuê anh Nguyễn Cao C1 ở xóm I, xã Q thi công công trình san lấp 800m² đất kể cả đất lưu không, bao gồm 400m² đất ở và 400m² đất lưu không, xây dựng 250m² nhà cấp 4 kiên cố, đóng trần, lát gạch, ốp tường diện tích 92m², phía trước có mái che, tôn xốp, chống nóng; sân bê tông có độ dày 20cm, các vật tư thiết bị điện nước nhà bếp, hệ thống làm mát, thông gió, cây xanh, hệ thống thoát nước, giàn chống nóng bãi đậu xe, làm hầm rượu. Tổng giá trị toàn bộ công trình khoảng 1.600.000.000 đồng. Nếu các nguyên đơn chấp nhận đền bù giá trị tài sản trên đất với số tiền trên, anh Q, chị M sẽ tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để bàn giao cho các nguyên đơn. Bị đơn đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng Nguyễn Cao C1 là người trực tiếp xây dựng các công trình trên đất cho bị đơn và hiện đang sử dụng cả hai thửa đất trên để làm nơi đựng gỗ và làm xưởng mộc. Bị đơn đề nghị xem xét thẩm định, định giá lại toàn bộ tài sản trên hai thửa đất đang tranh chấp.
Việc bà L1 khai chi phí đổ đất đối với 02 thửa đất trên là do trước đó anh Q còn nợ tiền dầu của bà và bà có hỗ trợ thêm 50.000.000 đồng, chi phí đổ đất không phải do anh Q bỏ là hoàn toàn không đúng. Ngoài ra, bà L1 cho rằng sau khi chuyển nhượng 02 thửa đất trên có bỏ ra 50.000.000 đồng thuê lại chủ đất mới cho anh Q có thời gian bàn giao mặt bằng là không đúng. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì cho rằng người có trách nhiệm bàn giao đất cho nguyên đơn là gia đình bà L1, không phải anh Q, chị M.
Tại các Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 02/7/2021, ngày 20/10/2021, ngày 20/9/2022, bản tự khai ngày 02/7/2021 bà Trần Thị L1, anh Trần Quý D, chị Trần Thị Khánh T2 thống nhất trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là của anh Trần Quý D. Nguồn gốc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số ) là của chị Trần Thị Khánh T2; chị T2, anh D là con bà L1. Vào năm 2014 do chưa có nhu cầu sử dụng đất, anh Q có hỏi bà L1 để mượn 02 thửa đất trên làm bãi đậu xe và làm hầm đựng rượu, nghĩ là anh em trong nhà nên bà đồng ý cho mượn đất. Việc mượn đất chỉ giữa bà và anh Q và không lập thành văn bản, không có sự ủy quyền của anh D, chị T2. Đến năm 2019, khi anh D bán đất cho người khác bà mới thông báo cho anh D, chị T2 biết việc bà cho anh Q mượn đất. Giữa bà và vợ chồng anh Q, chị M có thỏa thuận: Anh Q mượn đất để làm bãi đậu xe, chỉ dựng khung sắt, thưng tôn để làm hầm rượu, khi nào gia đình bà cần thì thông báo trước khoảng 03 tháng anh Q phải tháo dỡ tài sản để bàn giao mặt bằng, bà cũng chỉ cho mượn trong thời hạn khoảng 5 năm, khi nào anh D, chị T2 có nhu cầu thì sẽ lấy lại đất.
Trước đây khi anh Q chạy xe có nợ bà 153.000.000 đồng tiền dầu, sau đó bà và anh Q thỏa thuận giao cho anh Q đổ đất đối với 02 thửa đất liền kề là thửa đất số 94, 95, tờ bản đồ số 7 cao 50cm từ dưới lên x 800m² trị giá 50.000.000 đồng, số tiền 103.000.000 đồng là bà hỗ trợ cho anh Q chuyển nhà, không hề có việc anh Q tự bỏ tiền đổ đất. Vào đầu năm 2019, anh D, chị T2 có nhu cầu bán đất, bà có trực tiếp hỏi anh Q có mua đất không thì anh Q không mua, nên các con bà chuyển nhượng đất cho người khác, bà có thuê lại anh Trần Quốc O, sinh năm 1973, trú tại: xóm I, xã Q, huyện Q 08 tháng với giá 50.000.000 đồng để anh Q sử dụng đến hết năm 2019 và có thời gian tháo dỡ các công trình trên đất, bàn giao đất cho chủ mới như cam kết trước khi mượn đất để dựng nhà sắt làm hầm rượu. Hết năm 2019, bà có hỏi để yêu cầu anh Q trả lại mặt bằng và có nhờ chính quyền địa phương đóng mốc và giao đất cho chủ mới, chính quyền địa phương đã ra hiện trường đất, đo đạc và bàn giao cho các bên liên quan, anh Q đồng ý tháo dỡ nhưng không hiểu vì lý do tại sao thời điểm đó bên nhận chuyển nhượng không yêu cầu anh Q phải tháo dỡ ngay. Tại thời điểm mượn đất từ năm 2014 anh Q chỉ xây 01 khung nhà sắt lợp tôn để làm hầm rượu. Sau khi anh D, chị T2 bán đất cho người khác, anh Q có đổ sân bê tông, chuyển bếp sang khu vực đất của anh D, chị T2 đã chuyển nhượng cho người khác. Việc xây dựng thêm các công trình trên đất sau thời gian chuyển nhượng cho người khác, bà, anh D, chị T2 không đồng ý và đã nhiều lần yêu cầu anh Q phải tháo dỡ để bàn giao mặt bằng cho người mua.
Quá trình giải quyết nguyên đơn yêu cầu vợ chồng anh Q, chị M phải tháo dỡ toàn bộ các công trình trên đất và bàn giao mặt bằng thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H, anh Ngô Quang T1 và chị Chu Thị H1 quản lý, sử dụng thì bà, anh D, chị T2 đồng ý. Bà, anh D, chị T2 cũng sẽ không hỗ trợ bất cứ chi phí nào cho bị đơn như yêu cầu của nguyên đơn.
Kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 16/11/2021 như sau:
Các tài sản nằm trên 02 thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An gồm có:
- 01 nhà cấp 4, mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng, phần bếp lát gạch liên doanh, gồm 1 kho, 1 gian đựng rượu bằng khung sắt, 2 phòng ngủ, 1 bếp, móng nhà cao 1,5m diện tích rộng 5,5m, dài 19,94m, diện tích 109,67m² trị giá 156.060.000 đồng; Phần móng nhà cao 50cm, xây đá (phần vượt quá 1m) khối lượng 11m³ giá 5.500.000 đồng (Phần từ 1m trở xuống được tính vào giá trị nhà); 01 sân láng bê tông, dài 19,94m, rộng 22,8m, diện tích 454,6m² trị giá 55.000.000 đồng; 01 mái che trước nhà dài cấp 4, không có chống nóng 15,96m, rộng 7m, diện tích 111,72m² trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép kích thước (3,67m x 15,96m) x cao 3,5m, diện tích 68,7m² trị giá 19.900.000 đồng; Tường quây tôn, kích thước 8,3m x 3,5 m, diện tích 29,05m² trị giá 4.938.000 đồng; Hội đồng xác định giá trị đất bồi trúc, cơi nới giá trị đất từ mặt ruộng lên 1,5m, chiều sâu từ đường vào 40m, Hội đồng định giá 60.000đ/m³ x 348,8m² x 1,5m = 31.392.000 đồng.
- Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T, chị H) gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với nhà quán anh Q, chị M dài 23,7m, rộng 4m, diện tích 94,8m² trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 2.366.000 đồng; 1 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 6m³ trị giá 3.930.000 đồng;
- Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T1, chị H1) gồm: 01 tường bao xây sò, dài 15,3m, cao 2m, diện tích 30,6m² trị giá 4.500.000 đồng; 02 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 4.723.000 đồng; 2 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 12m³ trị giá 7.860.000 đồng.
Tổng giá trị toàn bộ các tài sản trên đất Hội đồng định giá xem xét nằm trên cả 02 thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) là 355.859.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ các Điều 117, 166, 494, 495, 496, 497, 498, 499 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T4.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn:
- Buộc anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M phải trả lại cho anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 207,5m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 61 (đất do anh Q, chị M quản lý, sử dụng) dài 20,82m; Phía Nam giáp thửa đất số 94 dài 20,72m; Phía Đông giáp đường Q dài 10m; Phía Tây giáp mương do UBND xã quản lý dài 10m.
- Buộc anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M trả lại cho anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 94, tờ bản đồ 7 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 206,6m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 95 dài 20,72m; Phía Nam giáp thửa đất số 93, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) dài 20,64m; Phía Đông giáp đường Q dài 10; Phía Nam giáp mương của UBND xã quản lý dài 10m.
- Anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H và anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 được sở hữu chung các tài sản: 01 nhà cấp 4, mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng, phần bếp lát gạch liên doanh, gồm 1 kho, 1 gian đựng rượu bằng khung sắt, 2 phòng ngủ, 1 bếp, móng nhà cao 1,5m diện tích rộng 5,5m, dài 19,94m, diện tích 109,67m² trị giá 156.060.000 đồng; Phần móng nhà cao 50cm, xây đá (phần vượt quá 1m) khối lượng 11m³ giá 5.500.000 đồng (Phần từ 1m trở xuống được tính vào giá trị nhà); 01 sân láng bê tông, dài 19,94m, rộng 22,8m, tổng diện tích 454,6m² trị giá 55.000.000 đồng; 01 mái che trước nhà dài cấp 4, không có chống nóng 15,96m, rộng 7m, diện tích 111,72m² trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép kích thước (3,67m x 15,96m) x cao 3,5m, diện tích 68,7m² trị giá 19.900.000 đồng; Tường quây tôn, kích thước 8,3m x 3,5 m, diện tích 29,05m² trị giá 4.938.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 261.398.000 đồng (hai trăm sáu mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).
- Anh T, chị H được sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T, chị H) gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với nhà quán anh Q, chị M dài 23,7m, rộng 4m, diện tích 94,8m² trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 2.366.000 đồng; 1 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 6m³ trị giá 3.930.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 26.393.000đ (Hai mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn đồng).
- Anh T1, chị H1 được sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (được cấp GCN QSDĐ cho anh T1, chị H1) gồm: 01 tường bao xây sò, dài 15,3m, cao 2m, diện tích 30,6m² trị giá 4.500.000 đồng; 02 cột điện ly tâm, dài 12m, trị giá 4.723.000 đồng; 2 móng bê tông chôn cột điện tổng khối lượng 12m³ trị giá 7.860.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản trên là 18.446.000đ (Mười tám triệu, bốn trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
- Anh Ngô Quang T1 và chị Chu Thị H1 có nghĩa vụ giao cho anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 167.739.000đ (Một trăm sáu mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi chín nghìn đồng).
- Anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H có nghĩa vụ giao cho anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 175.767.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
- Anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M được sở hữu số tiền 343.506.000đ (ba trăm bốn mươi ba triệu, năm trăm linh sáu nghìn đồng) là giá trị các tài sản trên đất và tiền đất bồi trúc do anh T, chị H, anh T1, chị H1 giao.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn anh Ngô Quang T1 và Chu Thị H1; anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H đối với yêu cầu anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên 02 thửa đất 94 và 95 tờ bản đồ 7 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 206,6m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/10/2022, bị đơn anh Trần Quý Q kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại với lý do: Tòa án chưa xem xét hợp đồng mượn đất giữa vợ chồng anh với bà Trần Thị L1; Hợp đồng mượn đất là lâu dài, vô thời hạn nên bị đơn đã xây dựng nhiều công trình trên đất cho mượn, nếu nguyên đơn chấp nhận đền bù giá trị tài sản trên đất cho bị đơn số tiền 1.600.000.000 đồng thì vợ chồng anh sẽ tháo dỡ tài sản giao đất cho nguyên đơn; đề nghị xem xét tính hợp pháp của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các nguyên đơn với gia đình bà Trần Thị L1; biên bản định giá thấp hơn nhiều so với đơn giá xây dựng theo Quyết định số 40/2019/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh N và Hội đồng định gia còn thiếu nhiều tài sản; đề nghị cấp phúc thẩm thẩm định, định giá lại; nguyên đơn yêu cầu vợ chồng anh tháo dỡ công trình, bàn giao đất là không hợp lý; Trên đất còn nhiều gỗ lớn của ông C1 và ông C1 có xây dựng xưởng mộc nhưng không đưa ông C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu khách quan, giải quyết vụ án không triệt để.
Ngày 12/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản, kết quả như sau:
Các tài sản nằm trên 02 thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An gồm có: 01 nhà cấp 4 mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng gồm 01 kho, 01 gian đựng rượu bằng khung sắt, 02 phòng ngủ, 01 bếp trị giá 157.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng inox trị giá 2.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng tôn trị giá 500.000 đồng; tường ốp gạch men Trung Quốc trị giá 3.600.000 đồng; trần nhựa 02 phòng ngủ trị giá 2.460.000 đồng; 01 mái che bằng tôn trước nhà cấp 4 trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép trị giá 19.900.000 đồng; T3 quây tôn trị giá 4.938.000 đồng; 01 sân láng bê tông trị giá 55.418.000 đồng; phần móng nhà cấp 4 xây đá (phần vượt quá 1m) trị giá 5.500.000 đồng. Tổng cộng: 271.316.000 đồng. Đối với đất bồi trúc từ mặt ruộng lên Hội đồng định giá xác định giá trị là 60.000 đồng/m³.
Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, chị H) gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với quán anh Q, chị M) trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm trị giá 2.366.000 đồng; 01 móng bê tông chôn cột điện trị giá 3.930.000 đồng. Tổng cộng 26.393.000 đồng.
Các tài sản nằm riêng biệt trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị H1) gồm: 01 tường bao xây sò trị giá 4.500.000 đồng; móng tường xây đá trị giá 8.600.000 đồng; 02 cột điện ly tâm trị giá 4.732.000 đồng; 02 móng bê tông chôn cột điện trị giá 7.860.000 đồng; 02 cây ngô đồng trị giá 700.000 đồng; 02 cây sấu trị giá 700.000 đồng. Tổng cộng 27.092.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Quý Q, chị Nguyễn Thị Tuyết M và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Năm 2014, bà Trần Thị L1 (mẹ của anh Trần Quý D và chị Trần Thị Khánh T2) cho anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M mượn thửa đất số 94 và thửa đất số 95, tờ bản đồ số 07, tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để làm nhà hàng. Việc cho mượn không có giấy tờ. Thời hạn mượn đất là lâu dài. Do đất sâu so với mặt đường quốc lộ 1 hơn 1,5m nên bị đơn đã thực hiện việc san lấp toàn bộ diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D, chị T2 và diện tích đất hành lang giao thông từ mép đường quốc lộ 1 vào hai thửa đất. Sau khi đắp đất, vợ chồng ông Q xây dựng nhà cấp 4, kho để đựng hàng, bếp, mái tôn che phía trước. Toàn bộ tài sản trên đất hiện nay được anh Q, chị M xây dựng vào năm 2014. Vào ngày 25/01/2019 âm lịch, tại đám giỗ của gia đình, bà Trần Thị L1 đã thông báo cho anh Q và chị M về việc bán đất. Anh Q đề nghị mua đất, bà L1 nói bán cho anh Q với giá 3.800.000.000 đồng, anh Q đồng ý mua và nói sẽ chuyển tiền mặt cho bà L1 3.300.000.000 đồng, còn 500.000.000 đồng sẽ trừ vào phần đất mà anh Q, bà L1 chung nhau ở xã Q, huyện Q hiện tại bà L1 đang làm cây xăng. Sau đó không thấy bà L1 thực hiện giao dịch. Một thời gian sau, anh Q nghe thông tin bà L1 đã chuyển nhượng 02 thửa đất đó cho anh T, chị H và anh T1, chị H1. Ngày 28/10/2019, UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn. Việc chuyển nhượng đất này đã vi phạm điều 408 Bộ luật dân sự vì tại thời điểm chuyển nhượng trên thửa đất còn có tài sản của bị đơn anh Q, chị M, các bên chưa thỏa thuận được các tài sản trên đất là đối tượng không thể thực hiện được nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các nguyên đơn với anh D, chị T2 là vô hiệu. Nếu các nguyên đơn bồi thường cho bị đơn 1.600.000.000 đồng thì bị đơn chấp nhận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Không có việc bà L1 cho anh Q mượn đất để làm nhà hàng vì hai thửa đất là của anh D và chị T2. Năm 2014, bà L1 chỉ cho anh Q mượn tạm để 1 số bình rượu nên anh Q chỉ hàn 1 khung sắt để đựng bình rượu, ngoài ra không có tài sản gì khác. Đến năm 2019, anh D, chị T2 chuyển nhượng cho các nguyên đơn thì tài sản trên đất cũng chỉ có 1 khung sắt đựng rượu. Năm 2019, bà L1, anh D, chị T2 yêu cầu anh Q chuyển dời tài sản để giao đất cho người mua. Anh Q xin đến tháng 12/2019 sẽ dời chuyển để giao đất nhưng sau đó anh Q không thực hiện. Tháng 5/2021, các nguyên đơn đã yêu cầu UBND xã ra cắm mốc để giao đất cho các nguyên đơn, có mặt cả vợ chồng anh Q và bà L1. Sau đó, anh Quy d toàn bộ bếp bên nhà hàng của anh Q sang hai thửa đất 94, 95. Đồng thời từ năm 2021 đến nay anh Q xây dựng thêm một số công trình hiện đã được định giá. Vật liệu xây dựng công trình là vật liệu tận dụng. Trước khi bán đất thì bà L1 có hỏi anh Q nhưng anh Q không mua nên bà L1 mới nói với anh D, chị T2 bán cho các nguyên đơn. Khi bán đất thì chưa có tài sản như bây giờ, sau này anh Q mới xây dựng nên. Vì vậy bà không nhất trí ý kiến của bên phía bị đơn. Nay nguyên đơn vẫn đề nghị anh Q, chị M phải trả cho anh T, chị H thửa đất số 95, trả cho anh T1, chị H1 thửa đất số 94. Đáng lẽ tài sản anh Q xây dựng trái phép trên hai thửa đất phải dỡ đi nhưng để đảm bảo được giá trị tài sản, các nguyên đơn thống nhất mua lại toàn bộ số tài sản anh Q xây dựng theo giá của Hội đồng định giá tại cấp phúc thẩm ngày 12/9/2023 và chấp nhận trả tiền đổ đất thay cho bà L1 trong diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn với chiều sâu là 1,5m.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm theo hướng buộc các nguyên đơn thanh toán cho bị đơn giá trị tài sản trên đất theo biên bản định giá ngày 12/9/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Các nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 1224, tờ bản đồ số 10 này là thửa đất số 94 tờ bản đồ 07, tại xóm A xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An diện tích 206,6m² thuộc quyền quản lý sử dụng của chị Trần Thị Khánh T2. Ngày 17/10/2019, giữa chị Trần Thị Khánh T2 và vợ chồng chị Chu Thị H1, anh Ngô Quang T1 ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nói trên. Ngày 29/10/2019, được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số CQ 531678 mang tên anh Ngô Quang T1 và chị Chu Thị H1. Thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 10, nay là thửa đất số 95, tờ bản đồ số 07, tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, diện tích 207,5m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh Trần Quý D. Ngày 21/10/2019, anh Trần Quý D ký hợp đồng chuyển nhượng cho anh Hồ Thân T và chị Trần Thị H2. Ngày 28/10/2019, được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số CQ 531679 mang tên anh Hồ Thân T, chị Trần Thị H2.
[3] Về Hợp đồng mượn đất: Quá trình giải quyết vụ án anh Q, chị M cho rằng bà L1, anh D, chị T2 và vợ chồng anh có thỏa thuận về việc cho thuê đất thời hạn đến năm 2025, nếu cần thiết có thể thuê thêm, khi chuyển nhượng không thông báo trước cho anh. Sau này anh Q có thay đổi lời khai cho rằng bà L1 có cho vợ chồng anh mượn đất vô thời hạn. Còn bà Trần Thị L1, anh Trần Quý D và chị Trần Thị Khánh T2 trình bày: Năm 2014, bà L1 có đứng ra cho vợ chồng anh Q, chị M mượn mặt bằng 02 thửa đất 94, 95, tờ bản đồ số 7 để làm bãi đỗ xe và dựng khung sắt làm hầm đựng rượu, có nói khi nào anh D, chị T2 cần thì anh Q phải tháo dỡ và trả lại mặt bằng. Việc mượn đất chỉ thỏa thuận bằng miệng, việc bà L1 cho mượn đất không được sự ủy quyền của chị T2 và anh D. Trước khi chuyển nhượng cho các nguyên đơn, bà L1 có đứng ra cam kết chuyển nhượng cho anh Trần Quốc O và chị Trần Thị H3 02 thửa đất trên và có viết giấy cam kết đến hết năm 2019 sẽ yêu cầu vợ chồng anh Q, chị M tháo dỡ toàn bộ các công trình trên đất để bàn giao vào ngày 31/12/2019, khi chuyển nhượng bà L1 đã thuê lại của anh O và chị H3 đến ngày 31/12/2019 để anh Q có thời gian tháo dỡ bàn giao tài sản. Lời khai này phù hợp với lời khai của anh Trần Quốc O và chị Trần Thị H3. Trước đó bà L1 có hỏi anh Q có mua đất không nhưng anh Q không mua nên mới chuyển nhượng cho người khác. Sau thời điểm 31/12/2019, bà L1 đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng anh Q bàn giao đất và có nhờ UBND xã đến cắm mốc nhưng anh Q vẫn không chịu giao đất. Như vậy, có thể xác định vào năm 2014, bà Trần Thị L1 có cho anh Q và chị M mượn 02 thửa đất số 94, 95, tờ bản đồ số 7 tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
[4] Mặc dù bà Trần Thị L1 không phải là chủ sử dụng các thửa đất tranh chấp, không được sự ủy quyền của các chủ sử dụng đất là anh D và chị T2, tự đứng ra thỏa thuận với anh Q về việc cho mượn đất, tuy nhiên giữa bà L1, anh D, chị T2 là quan hệ mẹ con, anh D, chị T2 không có ý kiến phản đối việc cho mượn đất nên việc cho mượn đất giữa bà L1, anh D, chị T2 và vợ chồng anh Q, chị M từ năm 2014 là có trên thực tế.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Q, chị M cho rằng toàn bộ tài sản được xem xét thẩm định định giá hiện nay được anh Q chị M xây dựng năm 2014. Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn cho rằng năm 2014 anh Q chỉ hàn 1 khung sắt để đựng bình rượu, ngoài ra không có tài sản gì khác. Từ năm 2021, đến nay anh Q xây dựng thêm một số công trình hiện đã được định giá. Thấy rằng, việc anh Q xây dựng nhà và các công trình trên đất vào thời điểm nào các bên đều không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Theo trình bày của anh Trần Quốc O và chị Trần Thị H3 thì khi mua đất đã có tài sản trên đất như hiện trạng gồm mái che tôn, sân đã bồi. Các công trình phía sau họ xây như thế nào anh chị không biết. Bà Trần Thị L1 khai trước đây anh Q dựng 01 khung sắt lợp tôn để làm hầm rượu. Sau khi chị T2 bán đất cho người khác thì anh Q đổ sân bê tông, chuyển bếp sang thửa đất của anh D, chị T2. Như vậy, có cơ sở xác định tại thời điểm anh D, chị T2 chuyển nhượng đất cho các nguyên đơn đã có tài sản trên đất của anh Q, chị M.
[6] Anh Q cho rằng khi bán đất bà L1 không thông báo cho anh, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 02/7/2021 (BL 30) anh Q khai “Đến năm 2019 chị Trần Thị L1 có ý định bán 02 thửa đất trên, tôi đã yêu cầu chị L1 bán lại cho gia đình tôi nhưng chị L1 vẫn không bán lại cho tôi mà bán cho người khác (có chị Kiều Thị H4 là chị dâu cả tham gia thuyết phục chị L1 bán lại đất cho gia đình tôi)”. Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng anh Q, chị M đều thừa nhận vào ngày 25/01/2019 âm lịch, bà L1 đã thông báo cho anh Q, chị M biết về việc bán đất, bà L1 đã đồng ý bán cho vợ chồng anh Q với giá 3.800.000.000 đồng nhưng sau đó không biết lý do gì bà L1 không bán cho vợ chồng anh chị mà bán cho người khác. Lời khai này chứng minh việc trước khi chuyển nhượng đất, bà L1 đã thay mặt chủ sử dụng đất thông báo cho anh Q sẽ chuyển nhượng đất và lấy lại mặt bằng. Việc không chịu tháo dỡ các tài sản để bàn giao đất là vi phạm quy định tại các Điều 496, Điều 499 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ của bên mượn tài sản và quyền của bên cho mượn tài sản. Việc ký kết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh D, chị T2 với các nguyên đơn là tự nguyện thỏa thuận; đối tượng chuyển nhượng là hai thửa đất số 94, 95; mục đích và nội dung không vi phạm các điều cấm của pháp luật, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015; các bên chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không chuyển nhượng tài sản trên đất. Trước khi chuyển nhượng, đã thông báo cho bên thứ ba biết về việc chuyển nhượng đất để tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất. Việc chuyển nhượng đã hoàn thành, các bên đã tiến hành bàn giao đất tại thời điểm ngày 31/12/2019 (thể hiện tại các Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai thửa đất được đo vẽ, đăng ký biến động tại thời điểm chuyển nhượng). Kể từ thời điểm chuyển nhượng đến nay, anh Q, chị M không có ý kiến bằng văn bản về việc chuyển nhượng. Quá trình giải quyết vụ án anh Q, chị M cho rằng chưa thống nhất được việc bồi thường giá trị trên đất nên chưa đồng ý tháo dỡ để bàn giao mặt bằng. Tài sản hiện nay đang do bị đơn quản lý. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng đất được ký kết giữa anh D, chị T2 với các nguyên đơn vô hiệu do khi chuyển nhượng còn có tài sản trên đất của bị đơn là đối tượng không thể thực hiện được là không đúng vì đối tượng chuyển nhượng là 2 thửa đất số 94, 95. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại cho anh T, chị H2 thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), trả lại cho anh T1, chị H1 thửa đất số 94, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) để sử dụng là có căn cứ.
[7] Đối với nội dung kháng cáo biên bản định giá thấp hơn nhiều đơn giá xây dựng; Hội đồng định giá còn thiếu nhiều tài sản. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn tiếp tục yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản. Ngày 12/9/2023, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản theo yêu cầu của bị đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng ý theo kết quả thẩm định, định giá của cấp phúc thẩm. Bị đơn đồng ý các tài sản được đưa ra định giá nhưng cho rằng giá định giá là quá thấp so với Quyết định số 40/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh N. Xét thấy, việc định giá để giải quyết vụ án phải căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm định giá; Quyết định số 40/2019/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh N ban hành đơn giá xây dựng nhà, công trình để xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An không phải là Quyết định xác định giá thị trường tại thời điểm định giá. Hội đồng định giá đã thực hiện việc định giá theo đúng trình tự Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Do đó, bị đơn cho rằng Hội đồng định giá thấp là không có căn cứ.
[8] Đối với nội dung kháng cáo về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tháo dỡ công trình, bàn giao đất là không hợp lý. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thể hiện hai thửa đất số 94, 95 tờ bản đồ số 07, tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, chị H2 và anh T1, chị H1. Hai thửa đất này hiện đang do anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M quản lý, sử dụng; trên đất đang có tài sản do anh Q, chị M xây dựng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tháo dỡ công trình, bàn giao đất là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn đã rút yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ tài sản và đồng ý mua lại toàn bộ tài sản trên đất do bị đơn xây dựng theo Biên bản định giá ngày 16/11/2021. Các tài sản do bị đơn xây dựng là các công trình gắn liền với đất không thể tháo rời, việc tháo rời sẽ gây thiệt hại vì vậy việc các nguyên đơn đồng ý mua lại tài sản gắn liền với đất là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H và anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 được sở hữu các tài sản như tại bản án sơ thẩm và buộc những người này trích trả giá trị tài sản cho anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
[9] Theo yêu cầu của bị đơn, ngày 12/9/2023, Tòa án cấp phúc thẩm đã thẩm định, định giá lại tài sản. Hội đồng định giá đã định giá theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào biên bản định giá ngày 12/9/2023 để xác định tài sản và giá trị tài sản giao cho các nguyên đơn sử dụng và buộc các nguyên đơn phải trích giá trị tài sản cho bị đơn như ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là phù hợp. Cụ thể:
Anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H và anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 được sở hữu chung các tài sản sau: Các tài sản nằm trên 02 thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An gồm có: 01 nhà cấp 4 mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng gồm 01 kho, 01 gian đựng rượu bằng khung sắt, 02 phòng ngủ, 01 bếp trị giá 157.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng inox trị giá 2.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng tôn trị giá 500.000 đồng; tường ốp gạch men Trung Quốc trị giá 3.600.000 đồng; trần nhựa 02 phòng ngủ trị giá 2.460.000 đồng; 01 mái che bằng tôn trước nhà cấp 4 trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép trị giá 19.900.000 đồng; T3 quây tôn trị giá 4.938.000 đồng; 01 sân láng bê tông trị giá 55.418.000 đồng; phần móng nhà cấp 4 xây đá (phần vượt quá 1m) trị giá 5.500.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 271.316.000 đồng. Anh T, chị H phải trích trả cho anh Q, chị M số tiền 135.658.000 đồng; anh T1, chị H1 phải trích trả cho anh Q, chị M số tiền 135.658.000 đồng.
Anh T, chị H được quyền sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, chị H) gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với quán anh Q, chị M) trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm trị giá 2.366.000 đồng; 01 móng bê tông chôn cột điện trị giá 3.930.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 26.393.000 đồng. Anh T, chị H có trách nhiệm giao lại cho anh Q, chị M số tiền 26.393.000 đồng.
Anh T1, chị H1 được quyền sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị H1) gồm: 01 tường bao xây sò trị giá 4.500.000 đồng; móng tường xây đá trị giá 8.600.000 đồng; 02 cột điện ly tâm trị giá 4.732.000 đồng; 02 móng bê tông chôn cột điện trị giá 7.860.000 đồng; 02 cây ngô đồng trị giá 700.000 đồng; 02 cây sấu trị giá 700.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 27.092.000 đồng. Anh T1, chị H1 có trách nhiệm giao lại cho anh Q, chị M số tiền 27.092.000 đồng.
Đối với đất bồi trúc, chấp nhận đề nghị của nguyên đơn tính giá trị trên diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh T, chị H giao cho bị đơn số tiền 18.675.000 đồng (60.000 đồng/m² x 207,5m² x 1,5m). Anh T1, chị H1 giao cho bị đơn số tiền 18.594.000 đồng (60.000 đồng/m² x 206,6m² x 1,5m).
Tổng cộng, vợ chồng anh T, chị H có nghĩa vụ giao cho anh Q, chị M số tiền 180.726.000 đồng. Vợ chồng anh T1, chị H1 có nghĩa vụ giao cho anh Q, chị M số tiền 181.344.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án anh Q cho rằng, ngoài bồi trúc đất đối với hai thửa đất số 94, 95 tờ bản đồ số 07 thì vợ chồng anh còn bồi trúc đất hành lang giao thông. Việc bồi trúc đất là để vợ chồng anh Q lấy mặt bằng để kinh doanh. Xét thấy, các nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất là nhận nguyên hiện trạng thửa đất. Nếu giữa bà L1 và vợ chồng anh Q có tranh chấp về việc bồi trúc đất ngoài hành lang giao thông, anh Q, chị M có quyền khởi kiện bà Trần Thị L1, anh D, chị T2 bằng vụ án dân sự khác.
[10] Đối với nội dung kháng cáo về việc trên đất còn nhiều gỗ lớn của ông C1 và ông C1 có xây dựng xưởng mộc nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu khách quan, giải quyết vụ án không triệt để.
Xét thấy việc ông C1 tự ý để gỗ trên thửa đất tranh chấp là thỏa thuận trái pháp luật giữa anh Q và ông C1 vi phạm khoản 2 Điều 499 Bộ luật dân sự. Quá trình giải quyết vụ án bà L1, anh D, chị T2 không thừa nhận việc cho ông C1 sử dụng đất để làm nơi để gỗ và làm xưởng gỗ. Anh Q không có quyền cho bất cứ ai sử dụng tài sản không thuộc quyền sử dụng của mình. Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 18/10/2023 thì hiện nay ông C1 có để gỗ trên một phần thửa đất số 94, trên đất không có xưởng gỗ hay máy móc gì. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Q cũng thừa nhận ông C1 không xây dựng tài sản gì trên đất. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông C1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
[11] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Trần Quý Q, sửa bản án sơ thẩm giao cho các nguyên đơn được sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với hai thửa đất số 94, 95 tờ bản đồ số 07, tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và buộc các nguyên đơn thanh toán cho các bị đơn giá trị tài sản trên đất theo Biên bản định giá ngày 12/9/2023.
[12] Về án phí:
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Quý Q được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn nhưng không buộc bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đề nghị các nguyên đơn trả cho bị đơn số tiền 1.600.000.000 đồng là giá trị tài sản trên đất và đất bồi trúc không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn mà là ý kiến của bị đơn để hai bên thương lượng, hòa giải và bị đơn cũng không thực hiện các thủ tục yêu cầu phản tố. Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không quyết định về nội dung này nhưng buộc bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền bị đơn không được chấp nhận 1.256.495.000 đồng là không đúng, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[13] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản tại cấp phúc thẩm: Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Trần Quý Q kháng cáo yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản. Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành thẩm định, định giá lại tài sản. Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản, xét thấy yêu cầu của anh Q là có cơ sở nên buộc các nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định, định giá lại tài sản. Bị đơn anh Trần Quý Q đã nộp 2.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản nên buộc các nguyên đơn phải hoàn trả lại số tiền này cho anh Q.
[14] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Trần Quý Q. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 26, Điều 147, 148, Điều 157, 158, 165, 166, 293 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 163, 164, 166, 494, 495, 496, 497, 498, 499 Bộ luật dân sự; khoản 5, 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H và anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1:
- Buộc anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M phải trả lại cho anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 207,5m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 61 (đất do anh Q, chị M quản lý, sử dụng) dài 20,82m; Phía Nam giáp thửa đất số 94 dài 20,72m; Phía Đông giáp đường Q dài 10m; Phía Tây giáp mương do UBND xã quản lý dài 10m.
- Buộc anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M trả lại cho anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 thửa đất số 94, tờ bản đồ 7 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 206,6m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 95 dài 20,72m; Phía Nam giáp thửa đất số 93, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số) dài 20,64m; Phía Đông giáp đường Q dài 10m; Phía Tây giáp mương của UBND xã quản lý dài 10m.
- Anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H và anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 được quyền sở hữu chung các tài sản gắn liền với 02 thửa đất số 94 và 95, tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, gồm: 01 nhà cấp 4 mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, nền láng xi măng gồm 01 kho, 01 gian đựng rượu bằng khung sắt, 02 phòng ngủ, 01 bếp trị giá 157.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng inox trị giá 2.000.000 đồng; 01 ống khói nhà bếp bằng tôn trị giá 500.000 đồng; tường ốp gạch men Trung Quốc trị giá 3.600.000 đồng; trần nhựa 02 phòng ngủ trị giá 2.460.000 đồng; 01 mái che bằng tôn trước nhà cấp 4 trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung thép trị giá 19.900.000 đồng; T3 quây tôn trị giá 4.938.000 đồng; 01 sân láng bê tông trị giá 55.418.000 đồng; phần móng nhà cấp 4 xây đá (phần vượt quá 1m) trị giá 5.500.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 271.316.000 đồng (Hai trăm bảy mươi mốt triệu, ba trăm mười sáu nghìn đồng).
- Anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H được quyền sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 95, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, chị H, gồm: 01 mái tôn lợp chống nóng (liền kề với quán anh Q, chị M) trị giá 20.097.000 đồng; 01 cột điện ly tâm trị giá 2.366.000 đồng; 01 móng bê tông chôn cột điện trị giá 3.930.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 26.393.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn đồng) và được sở hữu đất bồi trúc tại thửa đất số 95, tờ bản số 07, thuộc xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 18.675.000 đồng (mười tám triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- Anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 được quyền sở hữu các tài sản nằm trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 07 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị H1, gồm: 01 tường bao xây sò trị giá 4.500.000 đồng; móng tường xây đá trị giá 8.600.000 đồng; 02 cột điện ly tâm trị giá 4.732.000 đồng; 02 móng bê tông chôn cột điện trị giá 7.860.000 đồng; 02 cây ngô đồng trị giá 700.000 đồng; 02 cây sấu trị giá 700.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 27.092.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm chín mươi hai nghìn đồng) và được sở hữu đất bồi trúc tại thửa đất số 94, tờ bản số 07, thuộc xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 18.594.000 đồng (Mười tám triệu, năm trăm chín mươi tư nghìn đồng).
- Anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H có nghĩa vụ giao cho anh Trần Quý Q, chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 180.726.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 có nghĩa vụ giao cho anh Trần Quý Q, chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 181.344.000 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
- Anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M được sở hữu số tiền 362.070.000 đồng (Ba trăm sáu mươi hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng) là giá trị các tài sản trên đất và tiền đất bồi trúc do anh T, chị H, anh T1, chị H1 giao.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn anh Ngô Quang T1 và chị Chu Thị H1; anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H đối với yêu cầu anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên 02 thửa đất 94 và 95 tờ bản đồ 7 (bản đồ địa chính dạng số), tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
9. Về chi phí tố tụng:
Buộc anh Hồ Thân T, chị Hồ Thị H phải hoàn trả cho anh Trần Quý Q số tiền chi phí thẩm định, định giá là 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng);
Buộc anh anh Ngô Quang T1, chị Chu Thị H1 phải hoàn trả cho anh Trần Quý Q số tiền chi phí thẩm định, định giá là 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng);
10. Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn anh Trần Quý Q và chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh Trần Quý Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012570 ngày 20/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Hoàn trả cho anh Hồ Thân T và chị Hồ Thị H số tiền 19.500.000₫ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002460 ngày 23/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Hoàn trả cho anh Ngô Quang T1 và chị Chu Thị H1 số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007555 ngày 13/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Quý Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 108/2023/DS-PT ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 108/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
