|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2023/DS-PT Ngày: 14 – 8 – 2023 V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh
Các Thẩm phán:Bà Võ Thị Phượng
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 58/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023, về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn Ú; cư trú tại: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 02/10/2018): Bà Nguyễn Thị Thùy D; cư trú tại: D, ấp N, thị trấn P, huyện P, TP Cần Thơ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thanh C, Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố C. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Văn S; cư trú tại: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Lệ X (vắng mặt);
- Bà Bùi Kim N (có mặt);
- Bà Bùi Thị B; cư trú tại: Khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Bà Bùi Thị Bích L; cư trú tại: Số B, Trần Văn H, khóm A, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Chị Bùi Huỳnh Nhật V; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, TP Cần Thơ.
- Bà Bùi Thị Hồng T; cư trú tại: A, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị B1; cư trú tại: Tổ G, khu phố D, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị Hồng M; cư trú tại: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Gian (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Thủy P; cư trú tại: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
- Ông Đặng Văn C1 (vắng mặt);
- Bà Đặng Thị Giao P1 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tấn L1 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Ngọc H1 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Hồng T1 (vắng mặt);
- Anh Phạm Văn T2 (vắng mặt);
- Bà La Thị H2 (vắng mặt);
- Ông Bùi Thanh H3 (vắng mặt);
- Bà Bùi Mỹ H4 (vắng mặt);
- Bà Bùi Mỹ H5; cư trú tại: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
- Bà Liêu Thị Ú1 (vắng mặt);
- Anh Bùi Thanh H3 (vắng mặt);
- Anh Bùi Thanh H6; cùng cư trú tại: 1, L, phường A, quận N, TP Cần Thơ. (vắng mặt)
- Ngân hàng N1.
- Ngân hàng TMCP Đ1.
Cùng cư trú tại: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của chị V (văn bản ủy quyền ngày 11/5/2021): Bà Nguyễn Thị Thùy D; cư trú tại: D, ấp N, thị trấn P, huyện P, TP Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chị V: Luật sư Nguyễn Thanh C, Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố C. (có mặt)
Cùng cư trú tại: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Cùng cư trú tại: Khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, TP Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồng Minh H7 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
Trụ sở chính: 35 H, phường L, quận H, Thành phố hà N.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T3 – Giám đốc ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh H9 – Phòng G. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Bùi Kim N và bà Bùi Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/10/2018 và quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Văn Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Huỳnh Nhật V là bà Nguyễn Thị Thùy D trình bày:
Ông Ú là con của cụ Bùi Văn P2 (đã chết năm 2004) và cụ Trần Thị T4 (đã chết năm 2003). Cụ P2 và cụ T4 có tất cả 08 người con gồm: Bùi Lệ X, Bùi Huyền T5 (ông T5 và vợ đã chết, còn lại con là Bùi Huỳnh Nhật V), Bùi Ngọc Đ, Bùi Thị B, Bùi Kim N, Bùi Thị Bích L, Bùi Văn S, Bùi Văn Ú. Khi còn sống cụ P2 và cụ T4 có tạo lập được phần đất ruộng diện tích 8.670m², phần đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00332 ngày 10/11/1997 do hộ Bùi Văn P2 đứng tên và 01 phần đất thổ cư cụ P2 và cụ T4 cất nhà ở, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2004, trước khi mất cụ P2 có lập di chúc chia tài sản cho các con, nhưng di chúc không được công chứng theo quy định, cụ thể chia cho bà X 1.300m², bà L 1.300m², ông S 2.600m², ông Ú 2.600m². Di chúc lập nhưng anh em trong gia đình không ai biết, cụ P2 giao di chúc cho ông S giữ và giao quyền cho ông Đ sẽ đứng ra phân chia đất, đến năm 2008 ông S làm văn bản phân chia di sản thừa kế và có kêu ông Ú ký tên, ông Ú ký tên tại quán ở thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang không có ký tên tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hậu Giang, mọi thủ tục sau đó ông S tự làm, ông Ú không hay biết. Khi ông S kêu ông Ú về nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Ú mới biết ông Ú được chia 2.600m², ông S được chia 2.600m², bà L được chia 1.300m², bà X 983m², phần còn lại 870m² chưa chia cho ai. Tuy nhiên, phần đất ông Ú được chia thì ông Ú không có lối đi ra, vì vậy ông Ú không đồng ý nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xảy ra tranh chấp cho đến nay. Nay ông Ú yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 vì ông Bùi Huyền T5, chết năm 2006, có vợ là Huỳnh Thị Thu B2, chết năm 2010 nhưng trong văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 không có mặt bà Huỳnh Thị Thu B2. Bà D yêu cầu chia lại thừa kế phần đất tại vị trí số I, III, IV, V, VI, VII hình thức chia là xẻ xuôi ra lộ để ai cũng có mặt tiền, đối với công trình kiến trúc, cây trồng do ai trồng thì người đó hưởng. Đối với phần đất tại vị trí số II bà X đang sử dụng bà không yêu cầu chia, phần đất thổ cư của ông P2, bà T4 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang tranh chấp bà không yêu cầu chia,
Tại văn bản ngày 26/02/2019, quá trình tố tụng, bị đơn Bùi Văn S trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của bà D về cha, mẹ, anh chị em là đúng. Khi cha mẹ còn sống chưa chia đất cho anh chị em trong gia đình, khi cụ P2, cụ T4 chết có để lại phần đất 8.670m² đã được cấp giấy quyền sử dụng đất và 01 nền đất thổ cư cụ P2, cụ T4 cất nhà ở nhưng chưa được cấp giấy. Trước khi cụ P2 chết thì ngày 30/3/2004, cụ P2 có lập di chúc chia đất cho các con, cụ thể: phần đất ruộng chia cho Bùi Thị Bích L 1.300m², Bùi Văn S 2.600m², Bùi Văn Ú 2.600m². Phần đất thổ cư chia cho Bùi Văn S ngang 5m, dài hết đất, Bùi Văn Ú ngang 5m, dài hết đất, phần đất phía sau đang tranh chấp cho Bùi Huyền T5 và Bùi Thị Bích L mỗi người một phần. Sau khi cụ P2 chết anh em trong gia đình mới lập bản phân chia di sản thừa kế ngày 06/12/2007 qua đó bà X được hưởng 1.300m² đất ruộng, phần còn lại giao cho Bùi Thị Bích L, Bùi Văn Ú, Bùi Văn S sử dụng. Do phân chia diện tích không cụ thể nên không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Đến ngày 07/7/2008 anh em mới phân chia lại cụ thể như sau: Chia cho Bùi Văn S, Bùi Văn Ú mỗi người 2.600m², Bùi Thị Bích L 1.300m², phần còn lại giao cho Bùi Lệ X sử dụng, việc phân chia các anh em có ký tên tại Ủy ban nhân dân thị trấn L (cũ). Sau khi phân chia xong ông đại diện gia đình đi làm thủ tục tách bằng khoán cho những người được chia trong văn bản phân chia ngày 07/7/2008, anh em trong gia đình đã thống nhất ký tên, ông Ú, bà L, ông và bà X đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2008, sau đó ông Ú, bà L, bà X đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng đất thực tế cho đến nay. Đối với phần đất ông được chia 2.600m² ông đã chuyển nhượng lại cho bà Hồ Thị H8 diện tích 112,5m² vào năm 2009, sau đó bà H8 chuyển nhượng cho ông Đặng Văn C1. Năm 2016 ông chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn L1, bà Nguyễn Ngọc H1 diện tích 134,6m² và ông L1, bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2019 ông chuyển nhượng cho bà Phạm Thị T6 Phương phần đất có diện tích 330,2m² và bà P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay nguyên đơn yêu cầu chia lại thừa kế phần đất tại vị trí số I, III, IV, V, VI, VII ông không đồng ý, vì anh em đã phân chia phần đất cha mẹ để lại xong và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Còn đất thổ cư hiện đang tranh chấp với người giáp ranh ông không yêu cầu chia. Phần đất ông được chia là 2.600m² nhưng qua đo đạc thực tế chỉ có 2.440,6m² nên ông yêu cầu nhận thêm 159,4m² tại vị trí số V cho đủ 2.600m². Tại phiên tòa ông rút lại yêu cầu này.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Lệ X trình bày: Bà là con của cụ P2, cụ T4. Khi cha mẹ còn sống có cho bà phần đất 1.300m² vào năm 1999, sau khi cha mẹ chết bà có ký tên phân chia di sản thừa kế năm nào không nhớ rõ, nhưng có cán bộ Tư pháp chứng kiến. Sau khi phân chia xong ông S làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà diện tích 983m² không đủ so với phần đất được chia. Bà đã xin điều chỉnh lại diện tích, đã được đo đạc lại và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B trình bày: Bà là con của cụ P2, cụ T4, khi cha mẹ còn sống bà chưa được cha mẹ cho phần đất nào vì gia đình bên chồng đã có cho đất cho bà. Lúc cụ P2 lập di chúc thì không có cho đất bà, bà cũng không có ý kiến gì vì nghĩ gia đình khó khăn. Bà có ký tên vào văn bản phân chia di sản thừa kế nhưng không rõ năm nào nhưng ký tại nhà chứ không có ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn L. Sau khi ông Ú nhận đất thì ông Ú không có mặt tiền đi vào, gia đình thỏa thuận không được nên nay bà yêu cầu chia thừa kế phần đất tại vị trí số I, III, IV, V, VI, VII hình thức chia là xẻ xuôi ra lộ để ai cũng có mặt tiền, đối với phần đất tại vị trí số II, bà X sử dụng bà không yêu cầu chia. Phần đất thổ cư chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang tranh chấp bà chưa yêu cầu giải quyết.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Kim N trình bày: Bà là con của cụ P2 và cụ T4. Khi cha mẹ còn sống bà chưa được cha mẹ cho phần đất nào. Lúc cụ P2 lập di chúc bà cũng không biết, khi ông S làm thủ tục tách giấy quyền sử dụng đất cho những anh em khác bà cũng không biết, bà không có ký tên vào văn bản chia thừa kế. Sau khi bà L được chia đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L tặng cho bà 375m² và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã cất nhà ở xong. Đối với phần đất bà X đang sử dụng bà không yêu cầu chia, phần còn lại tại vị trí số I, III, IV, V, VI, VII bà yêu cầu chia đều thành 06 phần bằng nhau gồm Bùi Văn Ú, Bùi Văn S, Bùi Ngọc Đ, Bùi Thị B, Bùi Kim N, Bùi Huỳnh Nhật V hình thức chia là xẻ xuôi ra lộ để ai cũng có mặt tiền. Đối với công trình kiến trúc, cây cối ai trồng người đó hưởng bà không yêu cầu chia. Phần đất thổ cư chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà chưa yêu cầu giải quyết. Bà cho rằng không có ký tên vào văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 nên bà yêu cầu giám định chữ ký trong văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 có phải của bà hay không.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Bích L trình bày: Bà là con của cụ P2 và cụ T4. Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 bà không nhớ có ký hay không nhưng bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1.300m². Sau khi được cấp giấy bà đã tặng cho chị ruột là Bùi Kim N diện tích 375m² và bà N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần còn lại bà chuyển nhượng hết cho anh ruột Bùi Ngọc Đ. Bà đã được chia đất nên bà không có yêu cầu gì. Ngày 22/4/2019, bà có yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 và giám định chữ ký, bà xin rút lại yêu cầu này và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Huỳnh Nhật V trình bày: Chị là con của ông Bùi Huyền T5, chết năm 2006 và bà Huỳnh Thị Thu B2, chết năm 2010. Khi ông T5, bà T7 Ba còn sống chưa được ông nội là Bùi Văn P2 cho đất. Chị là con của ông T5 nên yêu cầu được chia phần thừa kế của ông T5.
Tại văn bản ngày 10/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Hồng T trình bày: Chị là con của ông Bùi Huyền T5 (chết năm 2006) và bà Phạm Thị B1. Việc tranh chấp giữa ông Ú với ông S chị không có yêu cầu gì và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 10/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B1 trình bày: Bà là vợ của ông Bùi Huyền T5 (chết năm 2006). Việc tranh chấp giữa ông Ú với ông S bà không có yêu cầu gì và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản hòa giải ngày 06/12/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thủy P trình bày: Vào tháng 02/2019, bà có nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn S phần đất có diện tích 330,2m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà yêu cầu được sử dụng phần đất này, hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ1 (B3) chi nhánh thị xã L. Bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản hòa giải ngày 13/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn C1 trình bày: Vào năm 2015 ông có nhận chuyển nhượng của bà Hồ Thị H8 phần đất có diện tích 112,5m², theo ông được biết thì phần đất này là của ông S chuyển nhượng cho bà H8 và bà H8 chuyển nhượng lại cho ông và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông yêu cầu được sử dụng phần đất này. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang thế chấp tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện L. Ông xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 13/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn L1, bà Nguyễn Ngọc H1 cùng trình bày: Vào năm 2016 ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn S phần đất có diện tích 134,6m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông, bà yêu cầu được sử dụng phần đất này. Ông bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 13/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T2 trình bày: Anh là con ruột của bà Bùi Kim N, vào năm 2009 bà N có cất cho anh căn nhà tiền chế trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà N nhưng chưa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh. Nay phần đất xảy ra tranh chấp anh không có yêu cầu gì, mọi việc do bà N quyết định. Anh xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 13/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng T1 trình bày: Chị là con ruột của bà Bùi Lệ X, vào năm 2012 bà X có cất cho chị căn nhà bán kiên cố trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà X nhưng chưa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị. Nay phần đất xảy ra tranh chấp chị không có yêu cầu gì, mọi việc do bà X quyết định. Chị xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà La Thị H2 trình bày: Bà là vợ của ông Bùi Ngọc Đ, bà và ông Đ kết hôn khoảng năm 1975 – 1976, chung sống đến khoảng năm 1983 – 1984 thì bà và ông Đ ly hôn. Quá trình chung sống có 03 người con gồm: Bùi Thanh H3, Bùi Mỹ H5, Bùi Mỹ H4, sau khi ly hôn thì 03 con chung do bà nuôi dưỡng. Sau đó ông Đ có vợ khác và có 02 người con là Bùi Thanh H3 và Bùi Thanh H6. Đến ngày 15/02/2021 thì ông Đ chết. Bà là người thừa kế của ông Đ, trong vụ án tranh chấp thừa kế giữa ông Ú và ông S thì bà không có yêu cầu gì. Đối với phần đất của bà L chuyển nhượng cho ông Đ bà không có yêu cầu gì, do ông Đ sang đất của bà L là tiền riêng của ông Đ. Bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/7/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh H3, bà Bùi Mỹ H5, Bùi Mỹ H4 cùng trình bày: Các ông bà là con của ông Bùi Ngọc Đ (đã chết ngày 15/2/2021) và bà La Thị H2, các ông bà là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đ. Việc tranh chấp giữa ông Ú và ông S ông bà không có yêu cầu gì. Đối với phần đất ông Đ nhận chuyển nhượng của bà L các ông bà không có yêu cầu gì và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại bản tự khai ngày 24/5/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Liêu Thị Ú1 trình bày: Bà là vợ của ông Bùi Ngọc Đ, trong quá trình giải quyết vụ án thì ngày 15/02/2021 ông Đ chết, bà là người thừa kế của ông Đ, đối với việc tranh chấp giữa ông Ú1 và ông S bà không có yêu cầu gì và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại bản tự khai ngày 24/5/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh H3 và Bùi Thanh H6 cùng trình bày: Cha của các ông là Bùi Ngọc Đ là anh ruột thứ 5 của ông Ú1 và ông S. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ngày 15/02/2021 ông Đ chết, các ông là người thừa kế của ông Đ, đối với việc tranh chấp giữa ông Ú1 và ông S các ông không có yêu cầu gì và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 02/7/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Đ1, đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đức T3 trình bày: Bà Phạm Thị Thủy P có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01760, CH01761 cấp số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng, dư nợ hiện ngày 20/9/2019 để vay tại 79.200.000 đồng, quá trình vay bà P đóng lãi đầy đủ và số nợ hiện nay chưa đến hạn. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với bà P và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại văn bản ngày 13/7/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1, đại diện theo ủy quyền ông Hồng Minh H7 trình bày: Ông Đặng Văn C1 và bà Đặng Thị Giao P1 có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng để vay số tiền 300.000.000 đồng, quá trình vay ông C1, bà P1 đóng lãi đầy đủ và số nợ hiện nay chưa đến hạn. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với ông C1 bà P1, khi nào cần thiết phía ngân hàng sẽ khởi kiện ông C1 bà P1 thành vụ kiện khác và xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn Ú có đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thùy D. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B, Bùi Kim N, Bùi Huỳnh Nhật V về việc yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 07/7/2008 và yêu cầu chia thừa kế phần đất tại vị trí số I, III, IV, V, VI, VII (có mãnh trích đo đạc kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Văn Ú là bà Nguyễn Thị Thùy D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B và bà Bùi Kim N có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét hủy văn bản chia thừa kế ngày 07/7/2008 và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bùi Văn Ú là bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà B, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập, đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Bùi Văn Ú và Bùi Huỳnh Nhật V trình bày:
- Cụ T4 chết năm 2003, chưa chia thừa kế. Trước khi chết, cụ P2 có lập di chúc định đoạt toàn bộ phần đất là không đúng, vì cụ P2 không có quyền định đoạt phần tài sản của cụ T4. Khi ông S làm hồ sơ phân chia di sản thừa kế nhưng không có sự tham gia của những người thừa kế của ông Bùi Huyền T5 (chết năm 2006) là không đầy đủ những người có quyền đối với tài sản phân chia. Việc phân chia di sản thừa kế cho ông Ú không có lối đi, về cây trồng không nêu rõ ai được hưởng.
- Trong vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Huỳnh Nhật V có yêu cầu độc lập, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không dành quyền kháng cáo cho chị V. Khi chị V liên hệ làm thủ tục kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm không cho kháng cáo. Về thủ tục triệu tập đương sự đang ở nước ngoài không đảm bảo.
Luật sư đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.
- Bị đơn ông Bùi Văn S đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Bởi vì, quá trình xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự như: Không dành quyền kháng cáo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Huỳnh Nhật V; trong vụ án có đương sự đang ở nước ngoài nhưng cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ thẩm quyền xét xử của Tòa cấp tỉnh hay của Tòa án cấp huyện...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/02/2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B và bà Bùi Kim N có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét thấy, quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể như sau:
- [2.1] Về quyền kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xác định chị Bùi Huỳnh Nhật V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu độc lập, tuy nhiên bản án sơ thẩm không dành quyền kháng cáo cho chị V là không đúng, vi phạm quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Hồng M, theo Công văn số 1864/QLXNC-P5 ngày 14/6/2021 của Cục Q – Bộ C2 và tài liệu kèm theo (bút lục 393 – 397) thể hiện tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án thì chị M đang cư trú ở nước ngoài. Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ về nơi cư trú ở nước ngoài của chị M để xác định thẩm quyền giải quyết và thực hiện các thủ tục thông báo, triệu tập tham gia tố tụng trong vụ án mà thực hiện niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng là Ủy ban nhân dân phường B, Nhà thông tin khu vực B B và trụ sở Tòa án là không đảm bảo về thủ tục và chưa đúng về thẩm quyết giải quyết vụ án.
- [3] Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự khai thống nhất các con của ông Bùi Huyền T5 ngoài chị Bùi Thị Hồng T, Bùi Thị Hồng M, Bùi Huỳnh Nhật V thì còn có một người con trai là Bùi Văn Thanh T8, đã chết. Trước khi chết thì anh T8 có vợ (không có đăng ký kết hôn) và có 01 người con gái, hiện không rõ họ tên và địa chỉ. Do đó, cần thiết thu thập chứng cứ để làm rõ nhân thân, địa chỉ của người thừa kế của anh T8 để đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án.
- [4] Từ những nhận định tại mục [2] và [3], xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
- [5] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bà N, bà B, do hủy án sơ thẩm nên chưa xem xét.
- [6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang và luật sư là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên chưa ai phải chịu án phí. Ông Ú được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Chưa ai phải chịu.
Ông Bùi Văn Ú được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004677 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |
Bản án số 108/2023/DS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 108/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quyền kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Bùi Huỳnh Nhật V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu độc lập, tuy nhiên bản án sơ thẩm không dành quyền kháng cáo cho chị V là không đúng, vi phạm quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
