|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - - - *&*- - - |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - - - **&**- - - |
|
Bản án số: 1079/2024/HS-PT Ngày: 04/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.
Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
Bà Trần Thị Lê Na .
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 04/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 910/2024/TLPT-HS ngày 15/10/2024 do có kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2024/HSST ngày 11/9/2024 của TAND huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Hoàng Ngọc Đ - Sinh ngày 25/5/2008, tại Hà Nội.
(Phạm tội khi 16 tuổi 22 ngày)
ĐKNKTT và nơi ở: Thôn P, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh Trường THPT N2; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Hoàng Ngọc B và bà Nguyễn Thị T; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024.
Có mặt.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Hoàng Ngọc B, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, là bố mẹ đẻ của bị cáo; Địa chỉ: Xóm D, thôn P, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Đều có mặt.
Bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn H, bà Nguyễn Hồng N – Luật sư Đoàn luật sư Thành phố H, công tác tại Công ty L2. Có mặt.
- Đại diện hợp pháp bị cáo kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, là mẹ đẻ của bị cáo Đ.
- Các bị cáo không kháng cáo, không triệu tập đến phiên tòa.
1. Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ1, sinh ngày 11/6/2008, tại Hà Nội.
(Phạm tội khi 16 tuổi 06 ngày)
ĐKHKTT và nơi ở: Thôn N, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn X và bà Hoàng Thị N1; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024.
2. Họ và tên: Nguyễn Trung T1, sinh ngày 12/10/2007 tại Hà Nội.
(Phạm tội khi 16 tuổi 08 tháng 05 ngày)
ĐKHKTT và nơi ở: Thôn P, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị H1; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024.
- Ngoài ra còn có đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1, bị cáo T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Ngọc Đ, Nguyễn Hữu Đ1, Nguyễn Trung T1 và Nguyễn Thanh T3 lập 01 nhóm có tên “cú đêm đói khát” trên mạng xã hội Facebook để thường xuyên nhắn tin rủ nhau tụ tập, đi chơi. Khoảng 01 giờ ngày 17/6/2024, Đ nhắn tin lên nhóm rủ nhau đi ăn đêm tại thôn P. Sau đó, Đ1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu đen (đã tháo BKS) chở T1, còn Đ một mình đi xe mãy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ (đã tháo BKS) đi ăn đêm. Sau khi ăn đêm xong, Đ rủ T1 và Đ1 điều khiển xe máy “đi bừa” (tức đi ngoài đường gặp ai không thích thì đánh). Đăng nhắn tin rủ thêm Nguyễn Thanh T3, T3 đồng ý, Đ điều khiển xe máy đến đón T3. Sau khi tụ tập đông đủ, T1 bảo cả nhóm đến cửa quán hát cho nhau nghe “Dâu Tây” ở thôn P lấy các vỏ chai bia thủy tinh mang theo để ném người đi đường. Đ1 và T3 đứng ngoài trông xe, Đ và T1 vào lấy 02 két đựng đầy vỏ chai bia thủy tinh. Đ điều khiển xe chở T3 ngồi sau giữ 01 két vỏ chai bia ở giữa; Đ1 điều khiển xe chở T1 ngồi sau để giữ 01 vỏ két chia bia ở giữa. Các đối tượng đi Đường B (đường F) thuộc xã V ra ngã tư V rồi vào Quốc lộ C, đi tiếp đến đường C thuộc xã U, huyện Đ. Khi đi đến số nhà A đường C các đối tượng gặp 02 nam thanh niên đi xe Honda Wave màu trắng đen (không rõ BKS và lai lịch) đi cùng chiều. Lúc này, T3 hô hào cả nhóm “đánh”. Đ và Đ1 điều khiển xe máy đuổi theo 02 nam giới, T3 lấy 02 vỏ chai bia, T1 lấy 02 vỏ chai bia ném về phía 02 nam giới thì hai người điều khiển xe máy bỏ chạy được. Các đối tượng Đ, T3, Đ1, T1 không đuổi theo mà di chuyển đi về ngã tư B thuộc thị trấn Đ rồi đi thẳng qua Đường B hướng xã V, huyện Đ. Trên đường đi, do không gặp ai nên các đối tượng quay lại đi đường C. Khi đến khu vực ngã ba Bệnh viện Đ2 thuộc xã U, các đối tượng thấy 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đeo BKS 29S1-720.92 do anh Nguyễn Công T4 điều khiển chở anh Nguyễn Bá T5, Đ và Đ1 điều khiển xe máy vượt lên, T3 cầm vỏ chai bia ném về phía anh T4 và anh T5. Anh T4 dừng xe, nấp phía sau xe máy để tránh, còn anh T5 chạy nấp phía sau xe rác, xe máy của anh T4 đã bị các đối tượng ném trúng. Sau đó, Đ chở T3, Đ1 chở T1 bỏ đi về hướng ngã tư Biến thế. Tại ngã tư Biến thế, cả nhóm gặp 03 nam giới đi 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen (không rõ BKS và lai lịch) và tiếp tục dùng vỏ chai bia ném về phía 03 nam giới. Ba người nam giới tăng ga bỏ chạy về phía đường C thì Đ chở T3 vòng lại đuổi theo, còn Đ1 chở T1 vòng xe lại thì bị ngã. Thấy vậy, Đ không đuổi theo nữa mà quay lại cùng T3 đỡ Đ1 và T1 dậy. Sau đó, cả nhóm lại tiếp tục đi đường C để tìm người khác đánh. Khi quay lại khu vực ngã ba Bệnh viện Đ2, các đối tượng gặp nhóm người đang ngồi ăn uống tại quán ăn của bà Phạm Thị Tuyết L. Thương hô hào rồi cầm vỏ chai bia cùng T1, Đ1 ném về phía khách đang ngồi trong quán, T1 ném vỏ chai bia trúng vào đầu gối bà L. Những người ngồi trong quán bỏ chạy thì các đối tượng Đ, T3, Đ1, T1 quay về ngã tư Biến thế rẽ đi đường Q hướng về xã V. Khi đi gần đến ngã ba Quốc lộ C cắt đường Đ, các đối tượng gặp 02 nam thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe Honda Wave màu trắng (không rõ BKS) tiếp tục tăng ga đuổi theo. Hai nam giới bỏ chạy thì T3 lấy 02 vỏ chai bia ném về phía hai người này, còn Đ1 điều khiển xe máy chở T1 lao lên chặn đầu xe. Hai nam giới điều khiển xe máy bỏ chạy vào đường Đ hướng đi xã C, huyện Đ. Các đối tượng Đ, T3, Đ1, T1 không đuổi theo mà đem các két vỏ chai bia để tại khu vực bãi cỏ gần khách sạn H2 thuộc thị trấn Đ, huyện Đ rồi đi về.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, không đeo BKS, số khung: RLHHC12239Y046855, số máy: HC12E-0658758.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, không lắp sim.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR vỏ màu xanh, lắp sim số 0398237316.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream không đeo BKS, số khung:RLHHA0802AY019012, số máy: HA08E-1319066.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, lắp sim số 0336527576.
Tại kết luận định giá tài sản số 118 ngày 04.7.2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: “ Trị giá tài sản và tiền công thay thế vỏ kính bên ngoài đèn hậu xe máy nhãn hiệu Honda Vision đeo BKS 29S1-720.92 bị nứt vỡ, không sử dụng được nữa là 390.000 đồng.”
Về dân sự: Bà Phạm Thị Tuyết L và anh Nguyễn Công T4 từ chối giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe. Anh T4 không đề nghị bồi thường. Gia đình các bị cáo Đ, Đ1, T1 đã bồi thường cho bà L 40.000.000 đồng tiền tổn hại sức khỏe, bà L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Thanh T3 khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng mới được 15 tuổi 15 ngày (chưa đủ 16 tuổi). Căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự Nguyễn Thanh T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ có công văn đề nghị UBND xã V, huyện Đ lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục theo quy định.
Đối với anh Nguyễn Công T4 và anh Nguyễn Bá T5 có hành vi điều khiển xe máy không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy, vi phạm điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 123/NĐ-CP của Chính phủ. Ngày 14/8/2024, Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mỗi người 450.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Ngọc Đ, Nguyễn Hữu Đ1 và Nguyễn Trung T1 khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 177/CT-VKSĐA ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Hoàng Ngọc Đ, Nguyễn Hữu Đ1, Nguyễn Trung T1 về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2024/HSST ngày 11/9/2024, TAND huyện Đông Anh đã quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Ngọc Đ 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu Đ1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Trung T1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/9/2024, bà Nguyễn Thị T kháng cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS, cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa:
- Bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xác định gia đình và bản thân đã không quản lý giáo dục con được tốt, quá trình giải quyết vụ án gia đình đã bồi thường cho anh T4, anh T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà L đã được bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bà có công với nước. Trong cuộc sống bình thường bị cáo luôn nghe lời ông bà cha mẹ, ở trường học không bị kỷ luật, trong thời gian qua do bị cáo nông nổi nên đã vi phạm, trước khi bị bắt bị cáo vẫn đang là học sinh, sau hơn 5 tháng tạm giam bị cáo đã bị bệnh tật. Đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo bằng với thời hạn tạm giam đề bị cáo được về chữa bệnh và đi học.
- Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về tiếp tục được đi học.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hà Nội có ý kiến:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án xác định tòa án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 - BLHS là đúng pháp luật. Về việc áp dụng tình tiết điểm b khoản 1 Điều 51 - BLHS theo đề nghị của bà T thì bà L và anh T4 đã nhận bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do ở đây xét xử bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng nên không có căn cứ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51- BLHS mà áp dụng khoản 2 Điều 51 - BLHS cho bị cáo. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, manh động nên không có căn cứ cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, tuy nhiên do có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ, do bị cáo Đ có vai trò đầu vụ nên giảm nhẹ hình phạt cho cả bị cáo Đ1 và T1. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 - BLTTHS, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, sửa bản án hình sự sơ thẩm, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Ngọc Đ từ 16 đến 19 tháng tù, xử phạt Nguyễn Hữu Đ1, Nguyễn Trung T1 mỗi bị cáo từ 14 đến 17 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến:
Nhất trí đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét đến vai trò của bị cáo, thực tế Đ rủ các bị cáo đi ăn chứ không rủ đi đánh người, không hô hào tiếp ứng, không khởi xướng đi lấy vỏ chai bia nên bị cáo Đ không phải là đầu vụ. Về việc áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS, thì bị cáo có hành vi phá khách có gây thiệt hại, ông T4 phải là người bị hại chứ không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên xác định việc bồi thường và xin giảm nhẹ của ông T4 đủ điều kiện áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 - BLHS.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên qua điểm không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 - BLHS cho bị cáo. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đ là người rủ các bị cáo đi “bừa”, bị cáo là người điều khiển xe máy trong quá trình di chuyển nên bị cáo có vai trò cao nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Ngọc Đ đã tuân thủ đúng theo quy định về chủ thể, thủ tục và thời hạn kháng cáo tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Khoảng 1 giờ ngày 17/6/2024, Hoàng Ngọc Đ điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ không biển kiểm soát chở Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Hữu Đ1 điều khiển máy Honda dream màu đen không biển kiểm soát chở Nguyễn Trung T1 chạy trên cung đường C, Đào Duy T6, Quốc lộ C, Đường B A, Đường B thuộc địa phận huyện Đ. Quá trình di chuyển, các bị cáo phóng xe tốc độ cao, đuổi chặn đầu người tham gia giao thông, đuổi ném vỏ chia bia thủy tinh vào người đi đường, khi qua quán ăn của bà L, các bị cáo ném vỏ chai bia thủy tinh làm bà L1 bị thương, khi đuổi theo xe máy của anh T4, các bị cáo ném vỏ chai bia làm hỏng đèn hậu. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự công cộng, gây lo lắng, hoang mang, hoảng sợ cho người tham gia giao thông nên Tòa án huyện Đ xử phạt các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 – BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo thấy rằng:
Về việc áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS: Quá trình gây rối trật tự công cộng, các bị cáo có hành gây thương tích cho bà L, gây thiệt hại tài sản của anh T4, bà L và anh T4 đều đã được nhận bồi thường khắc phục hậu quả của gia đình các bị cáo, mặc dù trong vụ án này chỉ xử lý các bị cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên có việc gây thiệt hại và có việc bồi thường khắc phục hậu quả nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 – BLHS cho bị cáo, ngoài ra về nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 51 – BLHS cho bị cáo.
Về yêu cầu cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ: Mặc dù bị cáo ở độ tuổi chưa thành niên, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, các bị cáo sử dụng vỏ chai bia thủy tinh chạy xe với tốc độ cao, vô cớ ném vào người đi đường thể hiện tính côn đồ, hung hãn, các bị cáo thực hiện hành vi nhiều lần trong quãng đường dài nên không có căn cứ cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, do vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bà T.
Do tại phiên tòa, HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gia đình bị cáo có ông nội có công với Cách mạng, bà L và anh T4 tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà T, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội. Để đảm bảo sự công bằng trước pháp luật, HĐXX xem xét áp dụng điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 – BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho cả bị cáo Đ1 và bị cáo T1.
Đối với các phần quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2024/HSST ngày 11/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b-s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Ngọc Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b-s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu Đ1 15 (mười lăm) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b-s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Trung T1 15 (mười lăm) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chử Phương Ngọc |
Bản án số 1079/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 1079/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
