Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1078/2024/HS-PT

Ngày 22 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Phan Nhựt Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 859/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T; Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2024/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Thị Thanh T, giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1991 tại Đồng Nai. CCCD số: [...] cấp ngày 09/3/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ G, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: như trên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: buôn bán. Tiền án, tiền sự: không. Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 và bà Chu Thị H, sinh năm 1963. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Có chồng là Hứa Đức T1, sinh năm 1988 và có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020).

Bị cáo đấu thú và bị tạm giữ ngày 20/4/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 169/LTG ngày 28/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Ngô Phương T2 - Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

- Bị hại:

2

  1. Ông Kʻ C, sinh năm 1988.
  2. Địa chỉ: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1987.
  4. Địa chỉ: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  5. Bà Nông Thị A, sinh năm 1990.
  6. Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  7. Ông Đinh Cao C1, sinh năm 1993.
  8. Địa chỉ: tổ F, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  9. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1984.
  10. Địa chỉ: ấp I, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  11. Bà Trương Thị D, sinh năm 1987.
  12. Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  13. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985.
  14. Địa chỉ: Phố L, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội.

  15. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984.
  16. Địa chỉ: tổ D, ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  17. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984.
  18. Địa chỉ: khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  19. Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1997.
  20. Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  21. Bà Hồ Thị Kiều D1, sinh năm 1992.
  22. Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  23. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987.
  24. Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  25. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1993.
  26. Địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

(Trong vụ án các bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

3

Nguyễn Thị Thanh T làm nghề kinh doanh mua bán trái cây tại chợ S1, huyện C, tỉnh Đồng Nai từ năm 2019. Do làm ăn thua lỗ nên T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của nhiều người bằng hình thức huy động vốn kinh doanh mua bán sầu riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

T đã dùng thủ đoạn dùng điện thoại di động hiệu OPPO soạn 1 đoạn tin nhắn “V số dư TK VCB 0481000701546 +71,700,080,000 VND lúc 30-11-2022 10:21:30. Số dư 71,823,781,169 VND. Ref MBVCB. 5638211639.196333. NGUYEN DUC TRONG chuyen tien sau rieng hang gap. Ngan hang Ky thuong V1 (T7) Tra tien sau rieng lo gấp ngày 28/11 cho vựa Thao toan phát mst 1201604336001”, sử dụng Zalo chuyển tin nhắn này vào Z “Thanh Thảo” trên điện thoại di động hiệu Opo số Imei1: 863557050214977 và làm giả các “Bản thỏa thuận thanh toán theo hợp đồng” giữa vựa sầu riêng Thảo Toàn P và Công ty TNHH X. Sau đó, T chụp màn hình điện thoại rồi gửi hình qua zalo cho các bị hại để các bị hại tin tưởng T buôn bán có lời và chuyển tiền hùn vốn kinh doanh cho T và bị T chiếm đoạt. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 02/2023, T đã chiếm đoạt của 12 người tổng số tiền 42.786.439.000 đồng (Bốn mươi hai tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn đồng). Cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khoảng tháng 11/2022, Nguyễn Thị Thanh T rủ bà Lê Thị H1, sinh năm 1984, nơi thường trú: ấp I, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai hùn vốn kinh doanh trái cây sầu riêng để xuất khẩu sang Trung Quốc. Mỗi đơn hàng xuất khẩu thành công thì sau 10 ngày T sẽ gửi tiền lời và vốn cho bà H1. Tin tưởng lời nói của T nên từ ngày 04/11/2022 đến ngày 23/02/2023, bà Lê Thị H1 đã sử dụng 03 tài khoản ngân hàng, gồm ngân hàng S2 số tài khoản 050079226898, ngân hàng A1 số tài khoản 5914205008500 và ngân hàng A2 số tài khoản 2248484848 để chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số tài khoản 0481000701546 mang tên Nguyễn Thị Thanh T với tổng số tiền là 33.335.999.996 đồng (ba mươi ba tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng) và T đã trả lại cho bà H1 số tiền là 17.523.499.995 đồng (mười bảy tỷ năm trăm hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi lăm đồng). Ngoài ra, T cấn trừ cho bà H1 1 xe ô tô hiệu Innova, 1 xe gắn máy hiệu Airblade tổng số tiền là 740.000.000 đồng (bảy trăm bốn mươi triệu đồng). Còn lại số tiền 15.072.500.001 đồng thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 2: Vào khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Thị Thanh T nói ông Đinh Cao C1, sinh năm 1993, nơi thường trú: tổ F, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai đưa tiền cho T để kinh doanh sầu riêng và T sẽ trả lãi cho ông C1 từ việc bán sầu riêng, góp 01 tỷ thì sẽ được T chia lợi nhuận từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Từ tháng 7/2022 đến ngày 11/2/2023, ông C1 đã sử dụng 2 số tài khoản 050111335688 của ngân hàng S2 và số tài khoản 9704229259723778 của ngân hàng M1 chuyển vào tài khoản ngân hàng V số 0481000701546 của T tổng số tiền 9.774.999.992 đồng (chín tỷ, bảy trăm bảy mươi bốn triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi hai đồng), sau đó T trả cho ông C1 số tiền

4

8.269.199.997 đồng (tám tỷ, hai trăm sáu mươi chín triệu, một trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi bảy đồng). Còn lại số tiền 1.505.799.995 đồng (một tỷ, năm trăm lẻ năm triệu, bảy trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi lăm đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 3: Khoảng tháng 8/2022, Nguyễn Thị Thanh T rủ bà Trương Thị D, sinh năm 1987, nơi thường trú: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai góp vốn để kinh doanh sầu riêng và sau 10 ngày thì T sẽ trả tiến gốc và lợi nhuận. Từ tháng 8/2022 đến ngày 31/1/2023, bà D đã chuyển vào tài khoản V số 0481000701546 của T số tiền 19.576.999.992 đồng (mười chín tỷ, năm trăm bảy mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi hai đồng). Sau đó, T đã chuyển trả cho bà D tổng số tiền 15.774.400.000 đồng (mười lăm tỷ, bảy trăm bảy mươi bốn triệu, bốn trăm ngàn đồng), còn lại số tiền 3.802.599.992 đồng (ba tỷ, tám trăm linh hai triệu, năm trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm chín mươi hai đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 4: Khoảng tháng 01/2022, Nguyễn Thị Thanh T rủ bà Nông Thị A, sinh năm 1990, nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai góp tiền mua đất ở tỉnh Đắk Nông và rủ góp tiền mua sầu riêng xuất khẩu qua thị trường Trung Quốc rồi bán lấy tiền lời. Từ ngày 28/10/2022 đến ngày 17/2/2023, bà A đã dùng tài khoản số 0871004254706 mở tại Ngân hàng V chuyển đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V của T và đưa tiền mặt cho T tổng cộng là số tiền là 5.666.589.032 đồng (năm tỷ, sáu trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, không trăm ba mươi hai đồng), T trả cho bà A số tiền 2.767.000.000 đồng (hai tỷ, bảy trăm sáu mươi bảy triệu đồng), còn lại số tiền 2.899.589.023 đồng (hai tỷ, tám trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, không trăm hai mươi ba đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 5: Vào đầu năm 2022, Nguyễn Thị Thanh T rủ bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, nơi thường trú: thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Hà Nam góp tiền để buôn bán sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc kiếm tiền lợi nhuận sẽ chia lại cho bà T. Vì tin tưởng T kinh doanh có lời nên từ ngày 07/02/2022 đến ngày 28/11/2022, bà Nguyễn Thị T đã sử dụng tài khoản ngân hàng số 19032453728005 mở tại ngân hàng T7 chi nhánh P1, tỉnh Hà Nam chuyển tiền đến nhiều số tài khoản do Nguyễn Thị Thanh T cung cấp với tổng số tiền 6.310.000.000 đồng (sáu tỷ ba trăm mười triệu đồng), Sau đó vào khoảng thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 11/2022 T đã dùng tài khoản V số 0481000701546 và tài khoản T7 số 1612023568 chuyển trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 4.823.000.000 đồng (bốn tỷ, tám trăm hai mươi ba triệu đồng). Còn lại số tiền 1.487.000.000 đồng (một tỷ, bốn trăm tám mươi bảy triệu đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 6: Vào đầu năm 2022, Nguyễn Thị Thanh T rủ bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985, nơi thường trú: Đọi Tam, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam góp tiền để mua bán sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc có lời sẽ trích lợi nhuận cho bà H2 từ 5% đến 20%/ chuyến hàng. Do tin tưởng T nói là thật nên từ ngày 10/08/2022 đến ngày 29/11/2022 bà H2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng 11025119468013 tên Nguyễn Thị H2 mở tại ngân hàng T7 chi nhánh Đ, Hà Nội chuyển tiền đến nhiều số

5

tài khoản do Nguyễn Thị Thanh T cung cấp với tổng số tiền 6.465.000.000 đồng (Sáu tỷ, bốn trăm sáu mươi lăm triệu), sau đó T đã dùng số tài khoản V số 0481000701546 và tài khoản T7 số 1612023568 chuyển khoản trả cho bà H2 số tiền 4.657.550.000 đồng (bốn tỷ, sáu trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại 1.807.450.000 đồng (một tỷ, tám trăm lẻ bảy triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 7: Vào tháng 8/2022, bà Hồ Thị Kiều D1, sinh năm 1992, nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai quen biết với Nguyễn Thị Thanh T và được T giới thiệu là người buôn bán sầu riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, để bà D1 tin tưởng T gửi cho bà D1 hình ảnh của T có giao dịch mua bán sầu riêng với số tiền hơn 28 tỷ đồng, sau đó rủ bà D1 góp vốn kinh doanh. Do tin tưởng lời nói của T là thật nên bà D1 đã chuyển tiền cho T nhiều lần từ tài khoản số 0871004232864 Ngân hàng V và tài khoản số 5902205404693 ngân hàng Al mang tên Hồ Thị Kiều D1 đến tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T; tài khoản số 1612023568 ngân hàng T7 mang tên Nguyễn Thị Thanh T và tài khoản số 5914777769999 ngân hàng Al mang tên Nguyễn Duy L2 (theo yêu cầu của T) với tổng số tiền là 1.620.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm hai mươi triệu đồng). Sau đó, T chuyển lại cho bà Duyên số tiền 353.000.000 đồng (ba trăm năm mươi ba triệu đồng). Số tiền còn lại là 1.267.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 8: Từ tháng 7/2022, Nguyễn Thị Thanh T nhiều lần liên hệ, trao đổi với ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984 nơi thường trú: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai về việc T đang kinh doanh thu mua sầu riêng để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đồng thời rủ ông T3 góp vốn chung với T để kinh doanh và hứa chia lợi nhuận theo từng đợt hàng nhưng không nói rõ là bao nhiêu phần trăm. Để tạo lòng tin, T chuyển cho ông T3 các hình ảnh về hợp đồng mua bán sầu riêng, thỏa thuận thanh toán giữa vựa sầu riêng Thảo Toàn P của T và phía bên Trung Quốc. Do tin tưởng T nên ông T3 đã chuyển tiền cho T nhiều lần bằng chuyển khoản từ tài khoản số 5914215001616 ngân hàng A1 mang tên Nguyễn Văn T3 sang tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T. Tổng số tiền ông T3 đã chuyển cho T là 14.201.999.995 đồng ( mười bốn tỷ, hai trăm lẻ một triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi lăm đồng). Sau đó T chuyển lại cho ông Nguyễn Văn T3 số tiền 11.254.999.995 đồng (mười một tỷ, hai trăm năm mươi bốn triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi lăm đồng). Số tiền còn lại 2.947.999.995 đồng (hai tỷ, chín trăm bốn mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi lăm đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 9: bà Hoàng Thị M, sinh năm 1997, nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai có mối quan hệ là bạn bè quen biết với Nguyễn Thị Thanh T từ tháng 12/2021, T nói với bà M là T đang buôn bán sầu riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, để bà M tin tưởng, T đưa cho bà M xem trang Facebook “Thanh Thảo” của T, qua đó thấy T thường xuyên đăng các hình ảnh, video về công việc buôn bán sầu riêng với số lượng lớn, đồng thời để bà M tin tưởng T còn

6

gửi hình ảnh số dư giao dịch tài khoản của T có giao dịch hơn 61 tỷ đồng và hứa chia lợi nhuận cho bà M. Do tin tưởng, bà M đã chuyển tiền cho T nhiều lần bằng chuyển khoản từ tài khoản số 0121000785429 Ngân hàng V, tài khoản số [...] ngân hàng S2 mang tên Hoàng Thị M và tài khoản số [...] ngân hàng V2 mang tên Vi Thị Cẩm N1 (bạn bà M) chuyển tiền đến tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V của T với tổng số tiền là 2.585.000.500 đồng (hai tỷ năm trăm tám mươi lăm triệu không trăm lẻ năm ngàn đồng). Sau đó, T đã chuyển trả lại cho bà M nhiều lần số tiền là 1.313.000.000 đồng (một tỷ ba trăm mười ba triệu đồng). Số tiền còn lại 1.272.500.000 đồng (một tỷ hai trăm bảy mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 10: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984, nơi thường trú: khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. có quan hệ là chú ruột của T, khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, T nhiều lần liên hệ, trao đổi với ông N về việc T đang kinh doanh thu mua sầu riêng để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đồng thời T nói ông N đưa tiền để hợp tác kinh doanh sầu riêng, T hứa sau khi xuất hàng sẽ trả tiền lợi nhuận cho ông N. Do là chú cháu ruột nên ông N và T không có thỏa thuận gì về tiền lời. Để tạo lòng tin, T chuyển các hình ảnh về hợp đồng mua bán sầu riêng, thỏa thuận thanh toán giữa vựa sầu riêng Thảo Toàn P của T và phía bên Trung Quốc. Do tin tưởng, ông N đã chuyển tiền cho T 07 lần (từ ngày 11/9/2022 đến ngày 20/12/2022) bằng chuyển khoản từ tài khoản số 0271000581909 và tài khoản số 0121001594161 ngân hàng V mang tên Phan Thị Hồng T4 (vợ ông N) đến tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V và tài khoản số 1612023568 ngân hàng T7 của Nguyễn Thị Thanh T. Tổng số tiền ông N đã chuyển cho T là 998.000.000 đồng (chín trăm chín mươi tám triệu đồng). Sau đó, T trả cho ông N số tiền là 165.000.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu đồng); Số tiền còn lại 833.000.000 đồng (T5 trăm ba mươi ba triệu đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 11: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1993, nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, có mối quan hệ là chị họ với Nguyễn Thị Thanh T, từ tháng 4/2022, T nói với bà L1 đang mua bán đất đai và buôn bán sầu riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, để bà L1 tin tưởng T gửi cho bà L1 hình ảnh hợp đồng mua bán, vận chuyển sầu riêng của T, hình ảnh số dư giao dịch tài khoản của T có giao dịch hơn 71 tỷ đồng, đồng thời rủ bà L1 góp vốn kinh doanh sầu riêng và hứa chia lợi nhuận. Vì tin tưởng là thật nên bà L1 đã chuyển tiền cho T nhiều lần bằng chuyển khoản từ tài khoản số 5606205390122 Ngân hàng Al của bà L1 đến tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T với tổng số tiền là 22.470.000.000 đồng (hai mươi hai tỷ bốn trăm bảy mươi triệu đồng) và đưa tiền mặt là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng); đồng thời bà L1 dùng tài khoản số 5606205298243 ngân hàng A1 mang tên Lý Ngọc H3 (chồng bà L1) chuyển tiền tài khoản số 1612023568 ngân hàng T7 mang tên Nguyễn Thị Thanh T và tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T với tổng số tiền là 1.951.000.000 đồng (một tỷ chín trăm năm mươi mốt triệu đồng).

7

Ngoài ra, T còn nhờ bà L1 chuyển tiền qua tài khoản cho 04 (bốn) người khác: Chuyển vào tài khoản số 5914215001616 ngân hàng A1 mang tên Nguyễn Văn T3 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); chuyển vào tài khoản số [...] ngân hàng S2 mang tên Hoàng Thị M và tài khoản số [...] ngân hàng V2 mang tên Vi Thị Cẩm N1 (bạn bà M) chuyển tiền đến tài khoản số 0481000701546 ngân hàng V của T với tổng số tiền 2.050.000.000 đồng (hai tỷ năm mươi triệu đồng); chuyển vào tài khoản số 5914777769999 ngân hàng A1 mang tên Nguyễn Duy L2 số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Tổng số tiền bà L2 đã chuyển cho T và 04 người nêu trên (theo yêu cầu của T) là 28.971.000.000 đồng (hai mươi tám tỷ chín trăm bảy mươi mốt triệu đồng). Nguyễn Thị Thanh T đã trả lại cho bà L2 số tiền là 20.752.000.000 đồng (hai mươi tỷ bảy trăm năm mươi hai triệu đồng), còn lại số tiền 8.219.000.000đ (tám tỷ, hai trăm mười chín triệu đồng) thì T chiếm đoạt.

Vụ thứ 12: Vào khoảng tháng 7 năm 2022, thông qua bạn là Ma Thị Y, bà Kʻ C, sinh năm 1988, nơi thường trú: ấp P, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai và anh Nguyễn Tiến S, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (là bạn trai bà Kʻ C) quen biết với Nguyễn Thị Thanh T. Sau đó T giới thiệu T kinh doanh buôn bán trái cây, cụ thể là xuất khẩu sầu riêng qua các nước như Trung Quốc, Thái Lan và các nước khác. T sử dụng ứng dụng Facebook và cho bà C xem hình ảnh T buôn bán sầu riêng với số lượng lớn cùng nhiều hình ảnh thể hiện T là người làm ăn lớn, thu nhập cao và có nhiều mối quan hệ trong làm ăn và T nói bà C, ông S góp vốn để kinh doanh. Do tin tưởng là thật nên từ ngày 30/08/2022 đến ngày 12/12/2022, bà C đã sử dụng tài khoản ngân hàng E mở ngân hàng A1, tài khoản ngân hàng A3 mở tại ngân hàng V mang tên Kʻ C và tài khoản ngân hàng V mang tên Nguyễn Tiến S chuyển tiền nhiều lần đến số tài khoản ngân hàng 0481000701546 mang tên Nguyễn Thị Thanh T mở tại ngân hàng V số tiền 11.320.000.000 đồng (mười một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng) và tài khoản ngân hàng số 59142150290066 (do T chỉ định) tên Lưu Thị Minh T6 mở tại ngân hàng A1 số tiền 2.050.000.000đ (hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng). Tổng số tiền bà Kʻ C và anh S chuyển cho T là 13.370.000.000 đồng (mười ba tỷ ba trăm bảy mươi triệu đồng). Sau đó, T đã chuyển trả cho bà Kʻ C và ông S số tiền 11.698.000.000 đồng (mười một tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu đồng) còn lại số tiền 1.672.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm bảy mươi hai triệu đồng) thì T chiếm đoạt.

Nhận thấy, Nguyễn Thị Thanh T có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản nên các bị hại đã làm đơn tố cáo T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Đến ngày 20/4/2023, Nguyễn Thị Thanh T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để điều tra, xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: bà Lê Thị H1 yêu cầu bồi thường số tiền 15.072.500.001 đồng; ông Đinh Cao C1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.505.799.995 đồng; bà Trương Thị D yêu cầu bồi thường số tiền 3.802.599.992 đồng; bà Nông

8

Thị A yêu cầu bồi thường số tiền 2.899.589.023 đồng; bà Nguyễn Thị T yêu cầu bồi thường số tiền 1.487.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị H2 yêu cầu bồi thường số tiền 1.807.450.000 đồng; bà Hồ Thị Kiều D1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.267.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu bồi thường số tiền 2.947.999.995 đồng; bà Hoàng Thị M yêu cầu bồi thường số tiền 1.272.500.000 đồng; ông Nguyễn Văn N yêu cầu bồi thường số tiền 833.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị L1 yêu cầu bồi thường số tiền 8.219.000.000 đồng; bà K1 và ông Nguyễn Tiến S yêu cầu bồi thường số tiền 1.672.000.000 đồng. Hiện bị cáo chưa bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2024/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 27/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 4551/QĐ-VKS-P2 kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”; số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại đặc biệt lớn. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 20 năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo; xử phạt bị cáo tù chung thân.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo cũng đã nghiêm khắc. Vì vậy, Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

9

[1] Quyết định kháng nghị số 4551/QĐ-VKS-P2 ngày 27/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai nằm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, các kết luận giám định, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Do làm ăn thua lỗ nên Nguyễn Thị Thanh T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của nhiều người bằng thủ đoạn làm giả tin nhắn nhận tiền (với số lượng tiền lớn) của Ngân hàng V và các hợp đồng với nhiều Công ty để bà Lê Thị H1, ông Đinh Cao C1, bà Trương Thị D, bà Nông Thị A, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H2, bà Hồ Thị Kiều D1, ông Nguyễn Văn T3, bà Hoàng Thị M, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà K1 tin tưởng, từ đó kêu gọi, huy động vốn của các bị hại để mua bán sầu riêng xuất khẩu qua thị trường Trung Quốc và chiếm đoạt. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 02/2023, T đã chiếm đoạt của 12 bị hại nêu trên với tổng số tiền 42.786.439.000 đồng, hiện không có khả năng hoàn trả.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần, số tiền chiếm đoạt tương đối lớn. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo bị xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã ra đầu thú, gia đình có công với cách mạng; từ đó áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 20 năm tù là phù hợp. Bản thân bị cáo là phụ nữ, có 02 con nhỏ chưa thành niên. Mức hình phạt trên cũng đã đủ sức để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Việc tăng hình phạt đối với bị cáo là không cần thiết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

10

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 4551/QĐ-VKS-P2 ngày 27/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2024/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (2);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Lưu VP(5), HS(2). 17b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1078/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 1078/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger