|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1077/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 8 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
- - Bà Phạm Thị Ngọc
- - Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị An
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà:
Bà Võ Hà Anh Thư.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi (số G đường Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 572/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 411/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 439/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D N, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1982; địa chỉ: Số D Tỉnh lộ 7, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thanh V trình bày:
Bà Nguyễn Thanh V và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101, Quyển số 01/2015, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/10/2015).
Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở nhà ba mẹ chồng tại phường T, Quận A. Đến năm 2019, vợ chồng mua được căn chung cư ở A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng từ đó mâu thuẫn gia đình phát sinh, do bà V phải đi lại giữ 2 nơi là Thái M và Quận A. Đến năm 2021, ông P dẫn gái về nhà, chung sống như vợ chồng trong lúc bà V và con đang ở xã T tránh dịch và phải chăm lo cho bố mẹ chồng. Sau khi bà V phát hiện ông P không thay đổi mà còn tìm lỗi sai của bà V, chửi bới, nhục mạ bà V và gia đình bà V. Bà V nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho bà V và ông P để rõ ràng về mặt pháp lý.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung trẻ Nguyễn Hải L, sinh ngày 22/7/2016 (đã chết) và trẻ Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017. Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh P trong suốt quá trình giải quyết vụ án, từ thời điểm thụ lý, công khai chứng cứ, hòa giải xét xử và tại phiên tòa vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông P:
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi về việc giải quyết vụ án như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Giữa hai bên có phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên tên Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017, không yêu cầu ông P cấp dưỡng, ý kiến của trẻ V1 có nguyện vọng ở với bà V, hiện tại đang ở với bà V. Ông P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết không vắng mặt không có ý kiến về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81 chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật:
Bà Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với ông Nguyễn Thanh P. Tại thời điểm bà V khởi kiện thì ông Nguyễn Thanh P đang cư trú tại Số D N, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Thanh P đến lần thứ 2, nhưng ông P vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Thanh P.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1 ]. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thanh P với lý do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không hòa hợp về vấn đề tình cảm, nguyên nhân mâu thuẫn về tình cảm, ông P đưa gái về nhà sống như vợ chồng trong chính căn nhà của ông P và bà V, trong lúc bà V và con đang ở xã T tránh dịch và chăm lo cho bố mẹ chồng. Sau khi bà V phát hiện ông P không thay đổi mà còn tìm lỗi sai của bà V, chửi bới nhục mạ bà V và và gia đình bà V. Hội đồng xét xử xét thấy, bà V xác định tình cảm không còn với ông P, hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được là có cơ sở. Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2]. Về yêu cầu giải quyết nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giữa bà Nguyễn Thanh V và ông Nguyễn Thanh P, có 02 (hai) con chung trẻ Nguyễn Hải L, sinh ngày 22/7/2016 (đã chết) và trẻ Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017. Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không thu thập được ý kiến của ông P về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nguyên vọng của trẻ V1 muốn được sống chung với bà V. Nhận thấy bà V hiện đang là người trực tiếp nuôi dưỡng và có việc làm, thu nhập ổn định, việc bà V yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện kinh tế của bà V, phù hợp với điều kiện phát triển bình thường của trẻ, tránh việc thay đổi cuộc sống sinh hoạt, học tập của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thanh V.
[2.3]. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thanh V xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết .
[3]. Xét ý kiến của bị đơn:
Bị đơn ông Nguyễn Thanh P trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm thụ lý, hòa giải xét xử và tại phiên tòa vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông P. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vao lời trinh bay của nguyên đơn và chứng cứ co trong hồ sơ vu an để chấp nhận yêu cầu cua nguyên đơn.
[4]. Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Nguyễn Thanh V được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P, giao con chung là trẻ Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Như đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở cần được chấp nhận.
[5]. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thanh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh V.
[1.1 ] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh V được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 101, Quyển số 01/2015, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/10/2015, không còn giá trị pháp lý.
[1.2 ] Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thanh V trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Thành V1, sinh ngày 21/10/2017. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Thanh P được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[1.3 ] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[1.4 ] Về nợ chung: Không co, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thanh V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015277 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà Nguyễn Thanh V đã nộp đủ tiền án phí.
Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Xuân Hà |
Bản án số 1077/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1077/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
