|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1076/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hoàng Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Trọng Thái.
- Bà Lê Thị Thanh Dung.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hồ Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 0590/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20/8/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 339/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thiết G, sinh năm 1985. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Cư trú tại: Tổ I, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Phan Thụy Cẩm Y, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Cư trú tại: B Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 21 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Võ Thiết G trình bày:
Quan hệ về hôn nhân: Ông và bà Phan Thụy Cẩm Y tự nguyện kết hôn vào năm 2005, được Ủy ban nhân dân Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2005 ngày 28 tháng 6 năm 2005. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung không hạnh phúc do vợ chồng không hòa hợp, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Y.
Quan hệ về nuôi con: Ông và bà Phan Thụy Cẩm Y có 02 con chung tên Võ Thiết Â, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2005 và Võ Tiểu M, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2010. Ông G đồng ý giao trẻ Võ Tiểu M cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con. Đối với trẻ Võ Thiết  đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan hệ về tài sản và nợ chung: Ông G tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Phan Thụy Cẩm Y là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
Hội đồng xét xử công bố các tài liệu trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn ông Võ Thiết G khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Phan Thụy Cẩm Y. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung công dân Phan Thụy Cẩm Y có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ B Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương . Hiện nay đang ở ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cùng với con là Võ Tiểu M.
Căn cứ kết quả xác minh của Công An xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nội dung công dân Phan Thụy Cẩm Y không có đăng kí thường trú và tạm trú tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Xét, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ B Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.3] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 25 tháng 7 năm 2024 Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.4] Việc thu thập chứng cứ:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản tự khai và biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ ông G khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ về hôn nhân:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2005 ngày 28 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban nhân dân Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Võ Thiết G và bà Phan Thụy Cẩm Y là hợp pháp.
Căn cứ kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung ông G và bà Y không thực tế cư trú tại địa chỉ B Đ, phường A, quận P. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa ông G và bà Y thì Ủy ban nhân dân phườnD không có cơ sở để cung cấp thông tin.
Xét: Mâu thuẫn phát sinh do hai bên bất đồng quan điểm, tính cách, không có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cuộc sống chung không hạnh phúc. Trong suốt quá trình tố tụng bà Y không đến tòa để trình bày ý kiến cũng như quan điểm về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và các vấn đề khác. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích cuộc hôn nhân không đạt được nên việc ông G yêu cầu ly hôn với bà Y để ổn định cuộc sống là chính đáng, có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Quan hệ về nuôi con:
Căn cứ vào Giấy khai sinh số 172/2005, quyển số 01/KS ngày 20 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban nhân dân Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy khai sinh số 73, quyển số 01/2010 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Ủy ban nhân dân Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở xác định ông G và bà Y có 02 con chung tên Võ Thiết Â, sinh ngày 6 tháng 5 năm 2005 và Võ Tiểu M, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2010.
Xét: Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thì trẻ Võ Tiểu M hiện đã đi khỏi địa phương cùng với bà Y. Đồng thời ông G đồng ý giao trẻ Võ Tiểu M cho bà Y nuôi dưỡng nên để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của ông G về việc giao con chung là trẻ Võ Tiểu M cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là trẻ Võ Thiết  hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[2.3] Quan hệ về tài sản và nợ chung: Ông G tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Quan hệ về hôn nhân: Ông Võ Thiết G được ly hôn bà Phan Thụy Cẩm Y (Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2005 ngày 28 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban nhân dân Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Quan hệ về nuôi con: Ông Võ Thiết G và bà Phan Thụy Cẩm Y có 02 con chung tên Võ Thiết Â, sinh ngày 6 tháng 5 năm 2005 và Võ Tiểu M, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2010. Trẻ Võ Thiết Â, sinh ngày 6 tháng 5 năm 2005 hiện nay đã trưởng thành.
Giao con chung là Võ Tiểu M, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2010 cho bà Phan Thụy Cẩm Y trực tiếp nuôi dưỡng và ông Võ Thiết G không cấp dưỡng nuôi con.
Quyền và nghĩa vụ của ông Võ Thiết G và bà Phan Thụy Cẩm Y đối với con chưa thành niên được pháp luật bảo đảm. Vì lợi ích của trẻ, việc trực tiếp nuôi con và đóng góp cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Quan hệ về tài sản và nợ chung: Ông Võ Thiết G tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Ông Võ Thiết G phải chịu số tiền án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0029513 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông G đã nộp đủ án phí.
5. Nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Hoàng Yến |
Bản án số 1076/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1076/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
