|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1073/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2024 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Vĩnh Lộc.
- Ông Lê Văn Rồi.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Minh Quang - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Không có.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 521/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc : “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 458/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số D, đường số G, tổ F, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số D, đường số G, tổ F, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 12 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Bích D tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01, ngày 09/7/2003.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông và bà D tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm nhau, tình cảm đã hết, cả hai đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Ông và bà D đã ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông xác định không thể tiếp tục chung sống với bà D được nữa và không thể hàn gắn đoàn tụ được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà D.
Về con chung: Ông L xác định ông và bà D có 02 con chung tên Nguyễn Anh D1, sinh ngày 30/4/2004 (đã trưởng thành); Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007.
Ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 01/5/2007. Ông tự nguyện không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông L xác định ông và bà D tự thoả thuận tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông L xác định ông và bà D không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 26 tháng 7 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích D trình bày:
Bà và ông L kết hôn năm 2003 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kết hôn quá trình chung sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình bà và ông L không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, Nay bà xác định không thể tiếp tục chung sống với ông L được nữa và không thể hàn gắn đoàn tụ được nên ông L yêu cầu được ly hôn với bà, bà đồng ý ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà xác định bà và ông L có 02 con chung tên Nguyễn Anh D1, sinh ngày 30/4/2004 (đã trưởng thành); Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007.
Ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 01/5/2007, bà đồng ý. Ông L tự nguyện không yêu cầu bà cấp dưỡng nuôi con chung, bà đồng ý.
Về tài sản chung: Bà xác định bà và ông L tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định bà và ông L không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ông L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn L đối với bà Nguyễn Thị Bích D là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích D hiện cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bích D, có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà D là đúng quy định.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Hội đồng xét xử xét thấy ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bích D có tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01, ngày 09/7/2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Ông L xác định sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L và bà D bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm nhau, tình cảm đã hết, cả hai đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Ông và bà D đã ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ vợ chồng, không thể tiếp tục chung sống với bà D được nữa nên ông yêu cầu được ly hôn với bà D.
Tòa án cũng đã triệu tập để hòa giải cho ông L và bà D có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên bà D xin vắng mặt, bà không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn xảy ra. Mặc khác bà D xác định bà không còn tình cảm với ông L, bà không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân với ông L. Hiện tại hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau nữa nên ông L yêu cầu ly hôn với bà, bà đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L và bà D đã phát sinh trầm trọng, cuộc sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L đối với bà D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Về con chung: Ông L và bà D xác định ông và bà có 02 con chung tên Nguyễn Anh D1 sinh ngày 30/4/2004 (đã trưởng thành); Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007.
Ông L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 01/5/2007, cháu Nguyễn Anh K cũng mong muốn sống cùng ông L, bà D đồng ý giao con chung tên Nguyễn Anh K cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của ông L với bà D nên Hội đồng xét xử xét thấy cần ghi nhận sự thỏa thuận trênvà giao cháu Nguyễn Anh K cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này bà D có tranh chấp về quyền nuôi con với ông L sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác. Hội đồng xét không xem xét giải quyết trong vụ kiện này là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5]. Về cấp dưỡng dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 01/5/2007, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này là phù hợp.
[6]. Về tài sản chung: Ông L và bà D xác định tài sản chung tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này là phù hợp.
[7]. Về nợ chung: Ông L và bà D xác định không có nợ chung, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này là phù hợp.
[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L phải chịu án phí theo quy định tại Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
1. Về hôn nhân:
Cho ông Nguyễn Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích D.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 37, quyển số 01, ngày 09/7/2003 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bích D không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Ông L và bà D có 02 con chung tên Nguyễn Anh D1 sinh ngày 30/4/2004; Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007. Cháu Nguyễn Anh D1 sinh ngày 30/4/2004 (đã trưởng thành), giao ông L trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007.
3. Về cấp dưỡng nuôi con:
Ghi nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu Bà D cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Anh K sinh ngày 01/5/2007.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm non để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 và khoản 2 Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng con chung.
4. Về tài sản chung: Ông L xác định ông và bà D tự thỏa thuận tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về nợ chung: Ông L xác định ông và bà D không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông L phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0015162 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Định |
Bản án số 1073/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1073/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị Bích D
