Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 1073/2023/HC-PT

Ngày 25-12-2023

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”


NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Long.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 554/2023/TLPT-HC ngày 11/8/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2458/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Trần Huy P, sinh năm 1958 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A đường L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Số A H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo văn bản ủy quyền ngày 22/02/2023).

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Địa chỉ: Số H L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Vũ T; chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Hoàng Thị Thanh N; chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thu N1, sinh năm 1958 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A đường L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người kháng cáo: Người bị kiện, Ủy ban nhân dân thành phố V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện, ông Trần Huy P và người đại diện hợp pháp trình bày:

Gia đình ông P sinh sống tại nhà, đất tại số A, đường L, phường C, đặc khu V-C (nay là Phường A, thành phố V) từ năm 1982. Ngày 02/01/1994, U cấp Giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất số 361/ĐKRĐTT đối với diện tích 93m², loại đất “T” (tức đất thổ cư). Ngày 01/11/2000, ông P được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) diện tích 69,1m², phần đất còn lại gia đình ông P đang quản lý, sử dụng đo đạc là 95,18m².

Ngày 24/7/2019, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Trần Huy P - Trần Thị Thu N1 do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V nhưng không bồi thường diện tích 22,8m² nên ông P đã khởi kiện và được Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận tại Bản án phúc thẩm số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 và Thông báo về việc sửa chữa, bổ sung Bản án phúc thẩm số 147/2020/TB-TA ngày 09/12/2020.

Đến ngày 12/4/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2668/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 bồi thường cho gia đình ông P diện tích 22,8m² nhưng chỉ bồi thường loại đất nông nghiệp.

Toàn bộ diện tích 22,8m² đất ông P đang quản lý, sử dụng được bồi thường có nguồn gốc đăng ký là đất thổ cư, trên đất ông P đã xây dựng vật kiến trúc, cụ thể là nhà 1 tầng loại 4, sân gạch men (theo biên bản kiểm kê).

Tại buổi làm việc ngày 18/11/2019 do Thanh tra thành phố V chủ trì, đại diện tất cả cơ quan chuyên môn Phòng T, Chi nhánh Văn phòng Đất đai thành phố V và đại diện U đều xác nhận phần diện tích 22.8m² đất bị thu hồi có nhà hiện hữu và vật kiến trúc do ông P trực tiếp xây dựng. Ngoài ra, tại Văn bản số 1136/UBND-TNMT ngày 24/02/2021 của UBND thành phố V xác định “Trong toàn bộ diện tích đất ông P đang sử dụng đã xây dựng nhà và vật kiến trúc trên đất, không có một mét vuông đất nào là đất nông nghiệp”.

Như vậy, căn cứ hồ sơ địa chính thì diện tích 22,8m² đất ông P đang quản lý, sử dụng là đất thổ cư, hiện đang sử dụng để ở nên căn cứ Điều 74 Luật Đất đai 2013 thì trường hợp của gia đình ông P phải được bồi thường đất ở.

Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”

Theo quy định trên, nếu đất bị thu hồi đang sử dụng với mục đích là đất ở thì khi bị thu hồi Nhà nước phải bồi thường theo giá đất của loại đất thu hồi. Diện tích 22,8m² trên đã được U cấp Giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất ngày 02/01/1994 là đất thổ cư, hàng năm gia đình ông vẫn thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ loại đất thổ cư.

Như vậy, Quyết định số 2668/QĐ-UBND nêu trên bồi thường diện tích 22,8m² loại đất nông nghiệp là không đúng quy định. Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu: Hủy một phần Quyết định số 2668/QĐ-UBND của UBND thành phố V và buộc UBND thành phố V phải bồi thường toàn bộ diện tích 22,8m² đất bị thu hồi là đất ở, bồi thường toàn bộ tài sản và vật kiến trúc trên diện tích đất bị thu hồi.

Người bị kiện UBND thành phố V trình bày:

Diện tích nhà đất của hộ ông Trần Huy P, tại số A đường L, phường A, thành phố V có nguồn gốc như sau: Năm 1991, UBND đặc khu V-Côn Đảo có Quyết định số 196/QĐ-UB ngày 12/2/1991 phê duyệt nhà hóa giá cho ông Trần Huy P, với diện tích 69,09m². Diện tích 26,09m² nằm trong quy hoạch trừ mở đường không được hóa giá, không thu tiền thể hiện tại Phiếu thu tiền, Phiếu kiểm tra tình trạng nhà lập ngày 05/01/1990. Trên cơ sở đó, ngày 30/6/2016, UBND thành phố V cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 371747 cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, diện tích 69,1m² đất ở.

Quá trình thu hồi, bồi thường, giải quyết khiếu nại, khởi kiện của ông Trần Huy P:

Ngày 10/9/2018, UBND thành phố V ban hành Thông báo thu hồi đất số 5243/TB-UBND về việc thu hồi đất của ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 đất tại Phường A để xây dựng công trình: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V. Ngày 27/9/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp với các phòng, ban đơn vị thuộc thành phố V tiến hành kiểm đếm đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với của hộ ông Trần Huy P, tại địa chỉ số A, đường L, Phường A, thành phố V, ghi nhận: Diện tích đất thu hồi 28,9m² thuộc thửa 01, tờ bản đồ THĐ. Nhà chính nằm ngoài phạm vi giải tỏa. Nhà diện tích (7,0m x 3,5m), giải tỏa toàn bộ, móng đá, tường gạch sơn, nền gạch men, mái tôn, cửa sắt, không trần, sân gạch men (7,0m x 0,74m), đồng hồ nước 01 cái.

Trong quá trình thẩm tra về nhà đất của hộ ông P xác định nguồn gốc đất do Nhà nước cho thuê và diện tích đất thu hồi có một phần diện tích đất không được Nhà nước bán hóa giá nhưng ông P đăng ký toàn bộ diện tích đất tại Sổ đăng ký đất của U (Diện tích được Nhà nước cho hóa giá, đóng tiền sử dụng đất là 69,1m² đất ở; diện tích đăng ký tại Sổ đăng ký đất của U là 93m² đất “T” (đất thổ). Trên cơ sở đó, Phòng T đã đề nghị Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố V chỉ đạo UBND Phường 1 rà soát, lập hồ sơ điều chỉnh hồ sơ địa chính theo quy định.

Ngày 16/8/2019, UBND thành phố V có Công văn số 4515/UBND-TNMT gửi Sở T1 đề nghị điều chỉnh hồ sơ địa chính 03 cấp đúng bằng diện tích đất mà Nhà nước đã hóa giá cho ông Trần Huy P. Ngày 30/12/2019, Sở T1 có Quyết định số 1260/QĐ-STNMT về việc điều chỉnh diện tích đất của ông Trần Huy P từ 93m² xuống còn 69,9m², loại đất “T”. Ngày 24/7/2019, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3490/QĐ-UBND về việc thu hồi 28,9m² đất của ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 tại Phường A để xây dựng công trình: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V. Ngày 24/7/2019, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, địa chỉ số: A, đường L, Phường A, thành phố V do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V. Diện tích thu hồi 28,9m², diện tích tính bồi thường 6,1m² theo giá đất ở. Không bồi thường diện tích 22,8m² do nằm ngoài diện tích cấp giấy, nằm ngoài diện tích được Nhà nước hóa giá, bồi thường, hỗ trợ một phần nhà và vật kiến trúc. Ngày 28/11/2019, UBND thành phố V có Quyết định số 6333/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với ông Trần Huy P, theo đó bác đơn toàn bộ nội dung yêu cầu bồi thường 22,8m² đất ở và vật kiến trúc xây dựng trên đất.

Ngày 28/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Bản án số 15/2020/HC-ST về kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính về quản lý đất đai không chấp nhận toàn bộ khởi kiện của ông Trần Huy P về việc yêu cầu UBND thành phố V cầu bồi thường 22,8m² đất ở và vật kiến trúc xây dựng trên diện tích đất cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1. Không đồng ý với Bản án sơ thẩm, ông Trần Huy P, bà Trần Thị Thu N1 kháng cáo.

Tại Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 và Quyết định số 147/2020/TB-TA ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa chữa, bổ sung Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020, sửa chữa bổ sung như sau: “Áp dụng: Khoản 4 Điều 82, điểm b khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013, khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013; Điều 32, khoản 2 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy P.

Hủy Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/7/2019 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, địa chỉ số: 01, đường L, Phường A, thành phố V, dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ - T-L, thành phố V.

Để UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ công vụ về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường hỗ trợ cho hộ ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 địa chỉ số: 01, đường L, Phường A, thành phố V do thu hồi đất đúng quy định pháp luật”.

Ngày 24/02/2021, UBND thành phố V có Văn bản số 1136/UBND-TNMT đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giải thích Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 do mâu thuẫn trong việc áp dụng quy định pháp luật trong Bản án không có căn cứ để thực hiện. Ngày 16/4/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số 419/2021/CV-TA về phúc đáp công văn số 1136/UBND-TNMT ngày 24/2/2021.

Thực hiện Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc bồi thường diện tích 28,9m² đất đã thu hồi trong đó có 22,8m² đất theo giá đất nông nghiệp:

Tại thời điểm mà UBND thành phố V thực hiện Bản án số 668/2020/HC-PT thì Sở T1 đã có Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 về việc điều chỉnh diện tích đất trong bộ hồ sơ địa chính Phường 1 do trước đây lập không đúng với nguồn gốc sử dụng đất: Phần diện tích đất giảm 23,90m² (giảm từ 93m² xuống còn 69,09m²) thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 6 tại S đăng ký tuộng đất phường 1 lập ngày 04/7/1994, thuộc diện tích trừ mở đường là 26,09m² thể hiện tại Phiếu giá nhà lập ngày 10/12/1990, phần diện tích đất này ông P không được Nhà nước hóa giá, không thu tiền ông P, Nhà nước đã xác lập quản lý trừ mở đường theo quy hoạch tại Quyết định số 604/TTg ngày 20/12/1993 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể xây dựng thành phố V, do đó không đủ điều kiện để bồi thường diện tích 22,80m² theo khoản 2 Điều 82 Luật Đất đai 2013.

Tuy nhiên, tại trang 7 của Bản án số 668/2020/HC-PT, Tòa án đã áp dụng khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai 2013, theo đó tại nhận định: “Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này”. Tại khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này”, để xác định bồi thường đất nông nghiệp cho ông Trần Huy P đối với phần diện tích 22,80m².

Do đó, ngày 31/12/2021, Thường trực UBND thành phố V có Thông báo số 10739/TB-UBND về kết luận thực hiện Bản án số 668/2020/HC-PT, theo đó thống nhất bồi thường diện tích 22,80m² theo giá đất nông nghiệp như phần nhận định tại trang 7 của Bản án số 668/2020/HC-PT.

Ngày 12/4/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2668/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, địa chỉ số: 01 đường L, Phường A, thành phố V để thực hiện dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V, theo đó đã bồi thường diện tích 28,90m² đất thu hồi, trong đó đã bồi thường diện tích 6,1m² theo giá đất ở (thuộc diện tích đất 69,09m² đất ở đã được UBND thành phố cấp giấy CNQSD đất số CD 371747 ngày 30/6/2016) và 22,80m² theo giá đất nông nghiệp thực hiện theo phần nhận định Bản án số 668/2020/HC-PT và kết luận của UBND thành phố V tại Thông báo số 10739/TB-UBND, trên cơ sở Biên bản họp của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Biên bản họp xét ngày 05/01/2022 của U, Công văn số 65/UBND ngày 07/01/2022 của U; Công văn số 114/TNMT-BT ngày 10/01/2022 của Phòng T (giá đất tính bồi thường theo Quyết định số 2848/QĐ-UBND ngày 21/3/2021 của UBND tỉnh phê duyệt giá đất cụ thể thực hiện Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh).

Như vậy, việc UBND thành phố V thực hiện việc bồi thường diện tích 22,8m² đất đã thu hồi theo giá đất nông nghiệp là thực hiện theo Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Việc ông Trần Huy P khởi kiện yêu cầu UBND thành phố V bồi thường diện tích 22,8m² đất đã thu hồi theo giá đất ở là không có cơ sở bởi lẽ diện tích đất này nằm ngoài diện tích đất Nhà nước đã bán hóa giá cho hộ ông Trần Huy P năm 1990, nằm ngoài diện tích ông P được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc diện tích Nhà nước đã xác lập quản lý ghi rõ trừ quy hoạch mở đường, không hóa giá cho ông P theo khoản 2 Điều 82 Luật Đất đai 2013.

Từ những cơ sở nêu trên, UBND thành phố V đề nghị bác đơn khởi kiện của ông Trần Huy P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu N1 trình bày:

Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Trần Huy P.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 143, Điều 144, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 11, điểm b khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy P:
    • Hủy một phần Quyết định số 2668/QĐ-UBND ngày 12/4/2022 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (hủy mục II/ Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp) cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, địa chỉ: A L, Phường A, thành phố V do nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V theo Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Buộc UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường diện tích đất 22,80m² (thuộc thửa 01 tờ bản đồ THĐ do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V) là đất ở cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 theo quy định của pháp luật.
  2. Đình chỉ yêu cầu bồi thường tài sản, vật kiến trúc có trên 22,80m² đất thu hồi.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/7/2023, người bị kiện UBND thành phố V kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện cung cấp một số biên lai thu thuế nhà đất của Chi cục Thuế thành phố V, các tài liệu khác và trình bày:

Hồ sơ sử dụng đất của ông P thể hiện đã đăng ký diện tích đất ở là 93m². Việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 điều chỉnh từ diện tích 93m² đất ở xuống 69,1m² là không đúng. Ông P sử dụng ổn định cho đến khi bị thu hồi, trên đất đã làm nhà và vật kiến trúc khác để ở. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, các cơ quan của thành phố V cũng xác định trong diện tích đất bị thu hồi không có đất nông nghiệp (Văn bản số 1136/UBND-TNMT ngày 24/02/2021 của UBND thành phố V).

Đối chiếu quy định tại Luật Đất đai năm 2013 và bản án số Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thì ông P phải được bồi thường diện tích 22,8m² theo giá đất ở. Việc UBND thành phố V cũng xác định là đất nông nghiệp là không đúng nên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố V trình bày:

Ngày 26/10/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 668/2020/HC-PT có nội dung bồi thường diện tích 22,8m² của ông P. Mặc dù, hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 đang khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên và chưa có kết quả trả lời nhưng UBND thành phố V vẫn căn cứ Bản án số 668/2020/HC-PT đang có hiệu lực pháp luật trên để thực hiện việc bồi thường. Theo hồ sơ sử dụng đất thì diện tích 22,8m² của ông P chỉ được bồi thường theo giá đất nông nghiệp là đúng vì: Phần đất này ông P không được hóa giá, đất nằm trong quy hoạch, việc đăng ký diện tích đất ở 93m² ghi bằng bút chì, không rõ; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 điều chỉnh từ diện tích 93m² đất ở xuống 69,1m² là đúng thẩm quyền; khi được cấp giấy CNQSDĐ diện tích 69,1m² thì ông P không khiếu nại; biên lai thu thuế của Chi cục Thuế thành phố V do ông P cung cấp đối với nhà đất của ông P là thuế đất ở nhưng không phải là căn cứ để xác định loại đất.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P là không đúng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố V, sửa bản án sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Hồ sơ vụ án thể hiện ông P đăng ký diện tích 93m² đất ở. Theo biên lai thuế nhà đất do ông P cung cấp được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện cũng xác nhận là thu thuế đất ở. Thực tế, ông P sử dụng toàn bộ diện tích bị thu hồi để ở.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P là đúng. UBND thành phố V kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 30; Khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Ủy ban nhân dân thành phố V kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

  1. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Quyết định 2668/QĐ-UBND ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục là đúng quy định tại Điều 66, điểm a Khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
  2. Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện:
    1. Ngày 12/02/1991, UBND đặc khu V-Côn Đảo ban hành Quyết định số 196/QĐUB phê duyệt hóa giá nhà số A L cho ông P. Ngày 18/12/1991, ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất số 486/CNSH đối với diện tích xây dựng 60,35m², gồm diện tích xây dựng nhà chính 43,42m², diện tích xây dựng nhà phụ 16,93m². Ngày 02/01/1994, ông P được U, thành phố V cấp giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất (tạm thời) diện tích đất 93m², loại đất “T”, số thửa 55, tờ bản đồ 6.
    2. Cùng ngày 24/7/2019, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3490/QĐ-UBND thu hồi diện tích 28,9m² đất của ông P, bà N1 để thực hiện dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V và ban hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông P, bà N1 đối với diện tích đất nêu trên nhưng không bồi thường diện tích 22,8m² đất và nhà, vật kiến trúc trên đất.
    3. Không đồng ý Quyết định số 3497/QĐ-UBND nêu trên, ông P đã khởi kiện yêu cầu bồi thường diện tích 22,8m² theo giá đất ở và nhà, vật kiến trúc trên đất. Tại Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020, có nội dung:

      “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy P.

      Hủy Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/7/2019 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Trần Huy P - Trần Thị Thu N1, địa chỉ số: 01, đường L, Phường A, thành phố V, dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V.

      Để UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ công vụ về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường hỗ trợ cho hộ ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 địa chỉ số: 01, đường L, phường A, thành phố V do thu hồi đất đúng quy định pháp luật.”

    4. Ngày 12/4/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2668/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông P, bà N1 đối với diện tích 22,80m² theo giá đất nông nghiệp.
    5. Mặc dù, ngày 18/12/1991, ông P chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với 60,35m². Tuy nhiên, ngày 02/01/1994, ông P được U, thành phố V cấp giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất (tạm thời) diện tích đất 93m², loại đất “T”; đồng thời sau khi được Sở Xây dựng tỉnh T1 cấp giấy phép xây dựng số 294/GPXD ngày 01/8/1996 thì ông P đã xây dựng, sửa chữa căn nhà, các công trình khác như sân, hàng rào...và sử dụng vào mục đích để ở theo diện tích đất thực tế sử dụng là 95,18m².
    6. Khoản 2, Điều 74 Luật Đất Đai2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

      "2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất".

    7. Đối chiếu quy định trên thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông P, bà N1 phải được bồi thường diện tích 22,80m² theo giá đất ở là có căn cứ.
    8. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P là có căn cứ. Ủy ban nhân dân thành phố V kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
    9. Do kháng cáo được không chấp nhận nên UBND thành phố V phải chịu án phí phúc thẩm.
    10. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 2, Điều 74; Điểm b khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố V.
  2. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 76/2023/HC-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huy P.
    1. Hủy một phần Quyết định số 2668/QĐ-UBND ngày 12/4/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (hủy mục II/ Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp) cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1, địa chỉ: A L, Phường A, thành phố V do nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V theo Bản án số 668/2020/HC-PT ngày 26/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường diện tích đất 22,80m² (thuộc thửa 01 tờ bản đồ THĐ do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Xây dựng nút giao thông Trương Công Đ-T-L, thành phố V) là đất ở cho ông (bà) Trần Huy P-Trần Thị Thu N1 theo quy định của pháp luật.
  4. Đình chỉ yêu cầu của ông Trần Huy P về việc bồi thường tài sản, vật kiến trúc có trên diện tích 22,80m² đất bị thu hồi.
  5. Về án phí hành chính:
    1. Án phí sơ thẩm:

      Ông Trần Huy P không phải chịu.

      Ủy ban nhân dân thành phố V phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

    2. Án phí phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố V phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0006159 ngày 17/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Ủy ban nhân dân thành phố V đã nộp đủ.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Cục THADS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Phan Đức Phương



Các Thẩm phán

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Mai Xuân Thành

Lê Thành Long

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1073/2023/HC-PT ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 1073/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger