Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1070/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-8-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1- Ông Lê Văn Rồi
  • 2- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 639/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 403/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 433/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1992; Đăng ký thường trú: Số 01, đường 517, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: Kế nhà số 13A, đường số 7, ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 01, đường 517, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn nội dung xin ly hôn ngày 17/4/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S trình bày: Bà với ông T tìm hiểu quen nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 14/4/2021. Sau kết hôn, vợ chồng bà sinh sống tại nhà chồng ở xã N, huyện C, cuộc sống tạm ổn định và sinh 01 con chung. Tuy nhiên, sau đó cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, ông T không có trách nhiệm chăm lo gia đình, kinh tế gia đình; mâu thuẩn của vợ chồng ngày càng trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Đỉnh điểm mâu thuẩn, bà đã mang con về nhà cha mẹ ruột ở Tây Ninh sinh sống gần 02 năm nay. Bà và ông T đã ly thân gần 02 năm nay, cả hai không còn quan hệ vợ chồng, mỗi người đã có cuộc sống riêng.

Hiện vợ chồng bà không còn tình cảm yêu thương, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Bảo A, sinh ngày 11/11/2021. Trẻ Bảo A đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Bảo A và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Đơn khởi kiện; Bản tự khai; Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 01 Bản sao khai sinh con; 01 bản sao căn cước công dân của nguyên đơn.

Bị đơn ông Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo mở phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đến tham dự phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà ông T vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã N, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Ông Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thanh.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc S với ông Lê Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Thạnh T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 14/4/2021 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà S xin ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà S thì mâu thuẩn giữa bà với ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân là do vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, ông T không có trách nhiệm chăm lo gia đình, kinh tế gia đình nên cả hai mâu thuẩn trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Đỉnh điểm mâu thuẩn bà đã mang con về nhà cha mẹ ruột ở Tây Ninh sinh sống gần 02 năm nay. Bà và ông T đã ly thân gần 02 năm nay, cả hai không còn quan hệ vợ chồng và mỗi người đã có cuộc sống riêng.

Ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T là có căn cứ; theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp là có cơ sở.

Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà S với ông T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Bảo A, sinh ngày 11/11/2021; để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ Bảo A, xét thấy cần giao trẻ Bảo A cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, Toà án không xem xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa án không xem xét.

[2.4] Xét cần buộc bà Sang phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc S được ly hôn với ông Lê Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 14/4/2021 của Ủy ban nhân dân xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà S, ông T không còn giá trị pháp lý.
  2. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Bảo A, sinh ngày 11/11/2021. Bà S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Bảo A. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi, do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, Toà án không xem xét.
  2. Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa không xem xét.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Ngọc S phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015398 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; bà S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - UBND xã T, thành phố Tây Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (12b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Xuân Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1070/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1070/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S khởi kiện ly hôn Lê Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger