|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HSST Ngày 30 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Anh Ngọc. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Nhàn |
| Bà Phan Thị Nga. |
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2024/HS-ST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Văn Đ (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27 tháng 6 năm 1984, tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T (đã chết) và con bà Bùi Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không. Tiền án: Bản án số 565/2015/HSPT ngày 15/09/2015 của Toà án Thành phố Hồ Chí Minh xử tù có thời hạn 2 năm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Bản án số 07/2016/HSST ngày 11/01/2016 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử tù có thời hạn 2 năm 6 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 83/2016/HSST ngày 20/07/2016 của Toà án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử tù có thời hạn 03 năm về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt là 07 năm 06 tháng tù giam bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tất cả những bán án nêu trên. Nhân thân: Bản án số 23/2008/HSST ngày 29/01/2008 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử tù có thời hạn 01 năm 6 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 63/2011/HSST ngày 22/02/2011 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử tù có thời hạn 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/5/2024 đến ngày 13/5/2024; Bị bắt, tạm giam từ ngày 30/8/2024
1
đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Phan Đức T1, sinh năm 1984; Trú tại: xóm Y, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+/Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1973; Trú tại xóm H, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
+/Chị Phạm Thị H, sinh năm 2004; Trú tại: xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Biết được tại khu vực xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang thi công làm mương có nhiều khuôn đúc bê tông bằng sắt đang để trên đường đang gắn với nhứng tấm bê tông chưa được tháo dỡ ra. Lợi dụng đêm tối của ngày 30/4/2024, ngày 01/5/2024 Phạm Văn Đ đã mang theo đèn pin, cà lê, mỏ lết, xô nhựa màu trắng, đi xe đạp màu hồng mượn chị Phạm Thị H, sinh năm 2004, trú tại: xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An đi đến khu vực đang thi công làm mương tại xóm Đ, xã H để trộm cắp những khuôn đúc bê tông bằng sắt với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tối ngày 30/4/2024 và ngày 01/5/2024, Phạm Văn Đ dùng cà lê, mỏ lết tháo dỡ hai khuôn đúc bê tông bằng sắt đưa đến điểm thu mua phế liệu của bà Ngô Thị T2 bán 02 khuôn đúc bê tông bằng sắt cho bà T2 giá mỗi khuôn là 320.000 đồng, trước khi bán thì Phạm Văn Đ nói dối với bà T2 là do khuôn sắt đúc bê tông bị lỗi nên họ cho bán để lấy tiền mua thuốc lá, tin lời Phạm Văn Đ nên chị T2 đã mua hai khuôn đúc bê tông bằng sắt của Phạm Văn Đ đem bán. Thấy việc trộm cắp của mình không bị phát hiện, nên tối ngày 03/5/2024 Phạm Văn Đ tiếp tục đến khu vực thi công làm mương tại xóm Đ xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An để tiếp tục trộm cắp khuôn sắt đúc bê tông. Sau khi tháo gỡ được khuôn sắt đúc bê tông đang chuẩn bị đưa lên xe đạp để đưa đi tiêu thụ thì bị lực lượng công an xã H phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật là 01 chiếc khuôn đúc bê tông bằng sắt; 01 chiếc xe đạp màu hồng, 01 đèn pin đội đầu, 01 cà lê, 01 mỏ lếp và 01 xô nhựa màu trắng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra công an thu giữ 02 chiếc khuôn đúc bê tông tại nhà bà Ngô Thị T2, đồng thời xác định 03 chiếc khuôn đúc bê tông bằng sắt là tài sản của anh Phan Đức T1, sinh năm 1984, trú tại xóm Y, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong điều tra tố tụng hình sự của UBND huyện Y, kết luận: 03 (Ba) chiếc khuôn đúc bê tông bằng thép có kích thước (100cm x 35cm x 25cm), đã qua sử dụng có giá trị mỗi cái là 560.000đ (Năm trăm sáu mươi
2
nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.680.000đ (Một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
* Về vật chứng vụ án:
- 03 (Ba) chiếc khuôn đúc bê tông bằng thép có cùng kích thước (100cm x 35cm x 25cm), đã qua sử dụng do Công an xã H thu giữ tại bà Ngô Thị T2 và tại Phạm Văn Đ được xác định là tài sản hợp pháp của anh Phan Đức T1, Cơ quan điều tra đã lại cho anh Phan Đức T1 trong giai đoạn điều tra theo quy định.
- 01(một) chiếc xe đạp màu hồng, đã qua sử dụng do Phạm Văn Đ dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị H. Khi mượn xe đạp của chị H, chị không biết được Phạm Văn Đ dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị H.
- Những vật chứng còn lại gồm: 01 (một) đèn pin đội đầu, 01 (một) cờ lê, 01 (một) mỏ lết và xô nhựa là công cụ phương tiện phạm tội, vật chứng liên quan đến vụ án đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 116/CT-VKS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
-Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phan Đức T1 đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự đối với Phạm Văn Đ, nên đề nghị miễn xét.
Bà Ngô Thị T2 người mua 02 (Hai) khuôn đúc bê tông bằng sắt do Phạm Văn Đ trộm cắp đem bán, bà T2 đã trả cho Phạm Văn Đ số tiền 640.000 đồng, 02 khuôn sắt đúc bê tông đã bị Cơ quan điều tra thu giữ hiện đã trả lại cho bị hại, quá trình điều tra, tại phiên tòa bà T2 không yêu cầu Phạm Văn Đ trả lại số tiền 640.000 đồng, nên đề nghị miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đèn pin đội đầu, 01 (một) cờ lê, 01 (một) mỏ lết và 01 xô nhựa màu trắng đã qua sử dụng thu của Phạm Văn Đ.
- 03 (ba) chiếc khuôn đúc về tông bằng sắt và chiếc xe đạp màu hồng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp trong giai đoạn điều tra là đúng đề nghị miễn xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 135, Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
3
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận đối đáp gì đối với bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không trình lời nói sau cùng của trước lúc nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại anh Phan Đức T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.
[II] Về nội dung:
[1] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn Đ1 khai nhận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân, biết được tại khu vực xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang thi công làm mương có nhiều khuôn đúc bê tông bằng sắt đang gắn trên những tấm bê tông chưa được tháo dỡ. Lợi dụng đêm tối ngày 30/4/2024, ngày 01/5/2024 Phạm Văn Đ đã dùng xe đạp màu hồng mượn chị Phạm Thị H là cháu ruột của Phạm Văn Đ mang theo 01 (một) đèn pin đội đầu, 01 (một) cờ lê, 01 (một) mỏ lết bỏ vào xô nhựa màu trắng đi đến khu vực đang thi công làm mương tại xóm Đ, xã H để trộm cắp. Đến nơi Phạm Văn Đ dùng cà lê, mỏ lết tháo lấy trộm 02 khuôn đúc bê tông bằng sắt đưa đến bán cho bà Ngô Thị T2, trú tại xóm H, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An là người thu mua phế liệu mỗi khuôn 320.000 đồng, trước khi bán thì Phạm Văn Đ nói dối với bà T2 là do khuôn sắt đúc bê tông bị lỗi họ cho bán để mua thuốc lá. Thấy việc trộm cắp không bị pháp hiện, nên tối ngày 03/5/2024 Phạm Văn Đ tiếp tục đến khu vực thi công làm mương tại xóm Đ để tiếp tục trộm cắp khuôn đúc bê tông. Sau khi tháo gở được khuôn sắt đúc bê tông đang chuẩn bị đưa lên xe đạp thì bị lực lượng công an xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật. Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 chiếc khuôn đúc bê tông bằng sắt tại người mua là bà T2, xác định 03 chiếc khuôn sắt do Phạm Văn Đ trộm cắp là tài sản của anh Phan Đức T1, sinh năm 1984, trú tại xóm Y, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Kết luận định giá tài sản, mỗi khuôn sắt do Phạm Văn Đ trộm cắp có trị giá là
4
560.000đ (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng), tổng trị giá 03 chiếc khuôn sắt có giá trị 1.680.000đ (Một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Mặc dù giá trị 03 chiếc khuôn sắt đúc bê tông do Phạm Văn Đ trộm cắp dưới 2 triệu, nhưng do bị cáo Đ đang có tiền án là tình tiết định tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản "quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật.
[2] Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo.
Vụ án thuộc loại án ít nghiêm trọng. Hành vi lén lút đột nhập vào khu vực thuộc xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An nơi đang thi công làm mương trộm cắp 03 chiếc khuôn đúc bê tông bằng sắt là tài sản của anh Phan Đức T1 do bị cáo Phạm Văn Đ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết và nhận thức rằng bản thân đã từng bị xét xử về nhiều tội danh khác nhau về hành vi chiểm đoạt tài sản, đang có án tích, nếu tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp thì sẽ bị xử lý hình sự. Tuy biết vậy nhưng do bản chất lười lao động thích thụ hưởng, nên bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Phan Đức T1 03 chiếc khuôn đúc bê tông bằng sắt có tổng trị giá 1.680.000đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Từ đó cho thấy bị cáo là con người khó cải tạo giáo dục, ngựa quen đường cũ, không có ý thức cải tạo thành con người có ích cho xã hội và gia đình. Vì vậy cần xử lý nghiêm với hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để nhà nước tiếp tục cải tạo giáo dục đối với bị cáo, qua đó để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật mà từ bỏ con đường phạm tội, đồng thời thực hiện nhiệm vụ phòng chống tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện ba hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần là 560.000 đ (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) là tình tiết định tội đối với bị cáo không phải là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Do đó bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo. Do bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản Điều 51 của BLHS, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án như đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa cùng đủ nghiêm.
[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Văn Đ có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không cần thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phan Đức T1 đã nhận lại tài sản của mình, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị T2 là người mua 02 khuôn sắt đúc bê tông do Phạm Văn Đ trộm cắp đem bán đã trả cho bị cáo Phạm Văn Đ tổng
5
số tiền 640.000 đ ( Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), nhưng anh T1, bà T2 không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Bà Ngô Thị T2 là người mua 02 khuôn đúc bê tông bằng sắt do bị cáo Phạm Văn Đ trộm cắp, nhưng bà T2 không biết được 02 chiếc khuôn này là do bị cáo đem bán là tài sản trộm cắp, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà Ngô Thị T2 là đúng.
[7] Đối với chị Phạm Thị H là chủ sở hữu chiếc xe đạp màu hồng mà Phạm Văn Đ đã sử dụng làm phương tiện phạm tội, chị H không biết được bị cáo Đ sử dụng chiếc xe vào mục đích trộm cắp, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H là đúng pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Ngoài 03 chiếc khuôn sắt, chiếc xe đạp màu hồng đã trả lại cho chủ sở hữu; quá trình điều tra còn thu giữ của bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) đèn pin đội đầu, 01 (một) cờ lê, 01 (một) mỏ lết và 01 (Một) xô nhựa đã qua sử dụng. Những vật chứng bị thu giữ là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại điều 135, điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam (ngày 30/8/2024), nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2024 đến ngày 13/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) đèn pin đội đầu, 01 (một) cờ lê, 01 (một) mỏ lết và 01 (Một) xô nhựa đã qua sử dụng thu của Phạm Văn Đ.
Những vật chứng nêu trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên bản về việc giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/10/2024.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Ngọc |
7
Bản án số 107/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 107/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
