Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MỸ

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 107/2023/HS-ST

Ngày 30/10/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Thuật và ông Vũ Minh Đón

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hoàng Minh Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1989. Giới tính: Nam; HKTT, chỗ ở: thôn M, xã N, huyện A, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1960. Năm 2001, ông T được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1960; Năm 2001, bà Th được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang và nhiều thành tích trong lao động; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự : không. Bị cáo N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Mỹ, có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hoan Ái, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn N là người nghiện ma túy, khoảng 10 giờ ngày 19/6/2023, N một mình điều khiển xe mô tô 89C-020.25 của N đi từ nhà đến khu vực ao sen giáp với đường 376, thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện Y mục đích mua ma túy để sử dụng. N gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, tên N1 (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), Nam nhờ N1 mua hộ ma túy, thì được N1 đồng ý. Nam đưa cho N1 số tiền 200.000 đồng và đứng chờ, khoảng 20 phút sau N1 quay lại đưa cho Nam gói ma túy. Trên đường đi về, Nam vào một hiệu thuốc mua 01 xi lanh, 01 lọ nước cất hết 3.000 đồng, bỏ vào túi quần phía trước bên phải. Sau đó Nam đi về khu vực nghĩa trang thôn H, xã T, huyện Y để sử dụng ma túy. Đến nơi, N dựng xe chuẩn bị sử dụng ma túy thì Công an huyện Yên Mỹ phát hiện bắt giữ và thu giữ tại tay phải 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh, kích thước (2x1)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục, màu trắng. Niêm phong ký hiệu M1; kiểm tra túi quần bên phải phía trước thu giữ 01 xi lanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng; kiểm tra túi quần bên trái phía trước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, bên trong nắp sim Viettel và thu giữ 01 xe mô tô hiệu Sirius, màu đen - vàng, biển kiểm soát 89C-020.25 bên trong cốp xe có 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn N, do Công an huyện Ân Thi cấp ngày 02/8/2011. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N nhưng không thu giữ được đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 387/KL-KTHS(MT) ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,168g là ma tuý, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 113/CT- VKS - YM ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: Bị cáo sử dụng ma tuý từ năm 2022, mục đích bị cáo đi mua ma tuý về để sử dụng, khi bị cáo đến nghĩa trang xã T chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá lời khai của bị cáo tại phiên tòa, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Bị cáo N từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/06/2023.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định, ký hiệu số 387/KL - KTHS bên trong có 0,145g Heroine, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 phong bì niêm phong mẫu vật. 01 xi lanh bằng nhựa và 01 ống nước cất, hoàn trả bị cáo Nguyễn Văn N 01 xe mô tô hiệu Suris, màu đen - vàng, biển số 89C - 02025 và đăng ký xe, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu đen, bên trong nắp sim Viettel.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt những người làm chứng. HĐXX xét thấy người làm chứng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.

[2] Hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận mục đích mua ma túy để sử dụng, bị cáo đi đến nghĩa trang xã Tân Việt để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ số ma tuý bị cao cầm ở tay vừa mua với số tiền 200.000 đồng, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên HĐXX có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/06/2023, tại khu vực nghĩa trang thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn N có hành vi cất giữ trái phép 0,168 gam, là ma túy, loại Heroin trên tay với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng ma túy là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, nhằm thỏa mãn việc nghiện của bản thân, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cơ quan chức năng, cải tạo, giáo dục, thì mới đủ điều kiện để bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo có bố, mẹ đẻ là người có công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản tích lũy, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Đối với 01 phong bì hoàn lại sau giám định, ký hiệu số 387/KL - KTHS bên trong có 0,145g Heroine, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 phong bì niêm phong mẫu vật. 01 xi lanh bằng nhựa và 01 ống nước cất, là chất cấm lưu hành, vật không có giá trị, nay tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius, màu đen – vàng, biển số 89C – 02025 và đăng ký xe, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu đen, bên trong nắp sim Viettel, là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên hoàn trả cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

2/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/6/2023.

4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định, ký hiệu số 387/KL - KTHS bên trong có 0,145g Heroine, 01 mảnh giấy gói ma tuý, 01 phong bì niêm phong mẫu vật. 01 xi lanh bằng nhựa và 01 ống nước cất.
  • - Hoàn trả bị cáo Nguyễn Văn N 01 xe mô tô hiệu Suris, màu đen - vàng, biển số 89C - 02025 và đăng ký xe, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu đen, bên trong nắp sim Viettel.
  • - Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ ngày 16/10/2023.

5/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKS, CA, huyện Yên Mỹ;
  • - Trại tạm giam - CA huyện Yên Mỹ;
  • - Chi cục THA DS huyện Yên Mỹ;
  • - UBND xã N, huyện A, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger