TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 8 năm 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út
Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Muội - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 222/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị D; sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Sơn Hoàng M, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị D vắng mặt và có đơn xin vắng; anh M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Sơn Hoàng M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2011. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa thuận. Chị D và anh M đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay chị D xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, chị không còn tình cảm với anh M nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Sơn Hoàng M.
Về con chung: Chị D xác định, chị và anh M có 01 con chung là cháu Sơn Hoàng V, sinh ngày 27/11/2011. Hiện nay con chung đang sống cùng anh M. Khi ly hôn chị D đồng ý giao con chung cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D không đề cập về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác định giữa chị và anh M không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M nhưng anh M đều vắng mặt và không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt theo quy định tại khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, chị D và anh M chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn, không sống chung trong một thời gian dài, không thể hàn gắn nên việc chị D yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung, giao cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Sơn Hoàng V, sinh ngày 27/11/2011, chị D không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị D yêu cầu ly hôn với anh Sơn Hoàng M, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Sơn Hoàng M cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Thạch Thị D có đơn xin vắng. Tại biên bản xác minh ngày 01/7/2024, chính quyền địa phương xác nhận anh M vẫn còn sinh sống tại địa chỉ ấp B T, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Bị đơn anh Sơn Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị D.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh M tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11 quyển số I/2011, ngày 11/01/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh M là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Chị D xác định cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có quan điểm chung, nhiều lần cải vã dẫn đến không còn tình cảm, chị D và anh M đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn. Anh Sơn Hoàng M đã được biết việc nguyên đơn chị D yêu cầu ly hôn với anh nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, anh M đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi gửi cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của anh M. Điều này cho thấy anh M đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị D. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị D và anh M đã đến mức trầm trọng, các bên không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho Chị Thạch Thị D ly hôn với anh Sơn Hoàng M.
[3.2] Về con chung: Theo lời trình bày của chị D phù hợp với giấy khai sinh, biên bản xác minh cho thấy giữa chị D và anh M có 01 người con chung là cháu Sơn Hoàng V, sinh ngày 27/11/2011. Khi ly hôn chị D đồng ý giao cho anh M nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, con chung đã sống cùng anh M từ khi chị D, anh M sống ly thân đến nay, cháu đang phát triển tốt, sức khỏe ổn định. Anh M đảm bảo nuôi dưỡng con chung nên việc chị D đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh M nuôi dưỡng là có căn cứ nên được chấp nhận. Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không đề cập vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh M đã biết được yêu cầu khởi kiện của chị D nhưng cũng không có ý kiến, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.4] Về tài sản chung: Chị D xác định chị và anh M không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.5] Về nợ chung: Chị D xác định chị và anh M không có nợ chung không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Chị Thạch Thị D yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Thạch Thị D.
- Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị D ly hôn với anh Sơn Hoàng M.
- Về con chung: Giao cháu Sơn Hoàng V, sinh ngày 27/11/2011 cho anh Sơn Hoàng M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, (hiện cháu V đang sống chung cùng anh M). Chị Thạch Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị D không yêu cầu xem xét về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Thạch Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị D đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002683 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho Ly hôn
