Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-PT

Ngày: 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Công Hoàn
Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Bán vé số; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị H; vợ: Lê Thị M, sinh năm 1988; có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số 21/2006/HSST ngày 30/3/2006 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. (đã chấp hành xong toàn bộ bản án); tại Bản án số 155/2010/HSST ngày 22/6/2010, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” (đã chấp hành xong toàn bộ bản án); tại Bản án số 84/2024/HSST ngày 29/3/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1981; nơi cư trú: C C, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Đỗ Thị H và bà Đỗ Thị T có quan hệ quen biết với nhau và cùng làm công việc bán vé số. Khoảng năm 2021, bà H có cho bà T vay 4.000.000đ tiền lấy vé số để bán nhưng bà H chưa có điều kiện trả.

Vào khoảng 20 giờ ngày 18/3/2023, bà T điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 49B2-136.87 chở con gái là cháu Đỗ Bùi Bình A vào quán B ở số A Á, Phường A, thành phố Đ bán hàng rong. Tại đây, Nguyễn Văn N (con trai của bà H) đang ngồi nhậu cùng với bạn thì thấy cháu A (con của bà T) nên N hỏi và biết được bà T đang đứng trước cửa quán. Do N biết bà T nợ tiền mẹ của N nên N đến yêu cầu bà T trả tiền nợ thì bà T nói: “Chị đang khó khăn quá, chị xin mẹ em đến cuối tháng chị trả cho mẹ em 500.000đ", nhưng N không đồng ý, đồng thời N dùng tay rút chìa khoá xe của bà T rồi đi vào trong quán. Khi đó bà T đi theo và xin N trả lại chìa khoá xe nhưng N không đồng ý rồi N điện thoại cho bà H để nói chuyện thì bà T nói với bà H qua điện thoại: “Giờ em không có, chị cho em đến cuối tháng em trả bớt cho chị 500.000đ, số còn lại em vay mượn sớm rồi trả cho chị”, nghe vậy bà H nói: “Không được, tao giao hết cho thằng N” rồi tắt máy. Sau đó bà T tiếp tục yêu cầu N trả lại xe nhưng N không đồng ý và gằn giọng nói: “Đừng có nói nhiều, coi chừng” làm bà T sợ nên bà T không yêu cầu N trả lại xe nữa. Lúc này một nam thanh niên ngồi nhậu cùng với N cũng lớn tiếng dọa nạt, đòi đánh bà T nhưng được mọi người can ngăn. Khoảng 15 phút sau, N đứng dậy ra về thì nam thanh niên này xin N đi nhờ xe thì N đồng ý. Khi N đi ra vị trí xe mô tô của bà T dựng trước quán thì bà T đi ra sau N để xin lại xe, N nói với bà T: “Đi về đi, chạy đủ tiền thì lấy xe về”, rồi dùng chìa khóa mở cốp xe ra thấy có thẻ căn cước cùng sổ hộ khẩu của bà T, N hỏi bà T: “Cà vẹt xe đâu?”, thì bà T nói: “Cà vẹt xe chị để ở nhà". Tiếp đó, N ném sổ hộ khẩu xuống đất, còn căn cước của bà Thu N1 bỏ vào trong túi rồi ngồi lên xe, bà T nói N1 trả lại xe thì N1 nói to: “Tránh ra cho tôi đi, đừng có nói nhiều”. Cùng lúc này, nam thanh niên trên cũng ngồi lên xe của N1 dọa nạt bà T, do lo sợ nên bà T không đòi lại xe nữa. Sau đó, N1 điều khiển xe mô tô biển số 49B2 - 136.87 chở nam thanh niên trên về nhà của N1 ở số A, Khu phố B M, Phường I, thành phố Đ cất giữ cho đến khi cơ quan Công an thu giữ.

Kết luận định giá số 42/KL-HĐĐG ngày 10/04/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự xác định giá của chiếc mô tô trên trị giá là 17.000.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà T, bà T không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 17/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội "Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 95/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2023.

Ngày 19/4/2024 bị hại Đỗ Thị T kháng cáo xin cho bị cáo Nguyễn Văn N hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm. Bị hại giữ nguyên kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị hại đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị hại là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 18/3/2024, Nguyễn Văn N có hành vi dùng lời nói đe dọa, uy hiếp tinh thần của bà T để lấy xe máy của bà T trị giá 17.000.000đ đem về phòng trọ cất giấu, nhằm mục đích buộc bà T phải trả số nợ 4.000.000₫ mà bà T nợ mẹ của N.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo của bị hại Đỗ Thị T: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đỗ Thị T vắng mặt. Xét thấy bị hại vắng mặt không vì lý do bất khả kháng, không do trở ngại khách quan nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp. Bị hại giữ nguyên kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo nhưng bị hại không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, bị cáo có nhân thân rất xấu, đang phải chấp hành hình phạt của Bản án số 84/2024/HSST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đồng thời áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của Bản án số 84/2024/HSST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là đúng đắn.

[4] Về án phí: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đỗ Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

    Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 84/2024/HSST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, buộc bị cáo Nguyễn Văn N chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2023.

  2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị hại Đỗ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I - TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV06-CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND tp Đà Lạt (02);
  • - VKSND tp Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA tp Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan THAHS CA tp Đà Lạt (01);
  • - Nhà tạm giữ CA tp Đà Lạt (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Hồ sơ THAHS (04);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 107/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N 'Cưỡng đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger