Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST.

Ngày 30/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;

Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1988; nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Số nhà B, hẻm A, ngách A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962; vợ: Lại Thị G, sinh năm 1995; con: có 02 con, sinh năm 2014 và 2017; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; nhân thân: Ngày 23/8/2005, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bản án số: 230/2005/HS-ST ngày 09/12/2005 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số: 51/2006/HS-ST ngày 30/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số: 93A/2006/HS-ST ngày 15/6/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại các Bản án số 230 ngày 09/12/2005, số 51 ngày 30/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 3 bản án là 20 tháng tù. Bản án số: 113/2008/HS-ST ngày 23/7/2008 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/12/2017, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 04/11/2023, VKSND thành phố Bắc Giang truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Ngày 18/12/2023, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang ra quyết định đình chỉ vụ án do bị hại rút đơn yêu cầu.

Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 14/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số nhà D, đê C, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số nhà B, hẻm A, ngách A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  3. Chị Lại Thị G, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số nhà B, hẻm A, ngách A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 45 phút ngày 14/01/2024 tại khu vực trước cửa số nhà A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tổ công tác Công an thành phố B bắt quả tang Nguyễn Tiến T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bọc giấy (loại giấy ăn), mở ra kiểm tra bên trong có 01 gói giấy bạc có đặc điểm một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, mở ra bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý, do Nguyễn Tiến T thả từ tay trái xuống nền đường gần vị trí T đứng khi bị bắt, được cho vào phong bì thư niêm phong ký hiệu “QT”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 356245044119353, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 98B3-907.60, xe cũ đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến T tại số nhà B, hẻm A, ngách A, ngõ A, đường G đã thu giữ: 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong đựng 02 túi nilon đều có một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ. Trong đó: 01 túi nilon đựng chất cục bột màu trắng, 01 túi nilon đựng 01 viên nén và 01 mảnh viên nén đều có màu hồng đỏ. Tất cả đều nghi là ma tuý, thu giữ trên mặt bàn cạnh giường ngủ của T, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 02 dao lam bề mặt đều bám dính chất bột màu trắng và màu hồng đỏ nghi là ma tuý, thu giữ tại mặt bàn cạnh giường ngủ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 01 mảnh giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh giấy ăn màu trắng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy đã thu giữ của T khi bắt quả tang và thu giữ tại nhà T khi khám xét.

Kết luận giám định số 174/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • 5.1. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, có khối lượng 0,223 gam, loại Heroine.
  • 5.2. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX1” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
    • Trong 01 (một) lọ nhựa hình trụ:
      • - Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 3,306 gam, loại Heroine.
      • - 01 (một) viên nén màu hồng đỏ và 01 (một) mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có tổng khối lượng 0,127gam, loại Methamphetamine.
  • 5.3. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX2” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng và hồng đỏ bám dính trên 02 (hai) con dao lam đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine và H, không xác định được khối lượng.

Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng nêu. Khoảng 20 giờ ngày 13/01/2024, bị cáo đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98B3 – 907.60 đến khu vực bờ đê Chi Ly mua ma túy để sử dụng. Bị cáo đi đến một ngôi nhà ở sườn bờ đê gần sân bóng chuyền, bị cáo đứng bên ngoài nói với một người ở trong nhà hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý Heroine và ma tuý tổng hợp. Bị cáo đưa số tiền qua lỗ trên tường thì người này nhận tiền và đưa cho một túi nilon, bên trong đựng ma túy Heroin, 01 viên ma túy tổng hợp và 01 mảnh viên ma túy tổng hợp. Bị cáo đi về nhà chia số ma túy tổng hợp cho vào một túi nilon khác rồi cất giấu vào trong một hộp nhựa, để trên mặt bàn gần giường ngủ mục đích để sử dụng dần.

Buổi sáng ngày 14/01/2024, bị cáo lấy túi nilon đựng ma túy Heroin, dùng dao lam chia một phần ma túy Heroin gói vào giấy bạc rồi dùng giấy ăn bọc lại. Bị cáo cất gói giấy đựng ma tuý Heroine trong túi áo khoác bên trái rồi đi mua đồ dùng cá nhân. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ ma túy. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo bị thu giữ một điện thoại Nokia, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai xác định:

  • Anh Nguyễn Văn S: Anh làm nghề lái xe chở hàng cho cửa hàng T1. Anh không quen biết gì đối với bị cáo Nguyễn Tiến T. Quá trình bị cáo T bị bắt giữ do tàng trữ ma túy có khai là mua ma túy ở nhà anh ngày 13/01/2024 là không đúng. Anh không bán ma túy cho bất kỳ người nào.
  • Chị Lại Thị G: Chị và bị cáo T là vợ chồng. Chị biết chồng mình có sử dụng ma túy, chị có khuyên bảo nhưng bị cáo không bỏ ma túy. Chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3-907.60 là tài sản của chị cho chồng chị mượn làm phương tiện đi lái xe ôm. Nay, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị. Chị không có yêu cầu gì.
  • Bà Nguyễn Thị D: Bà là mẹ của bị cáo T. Bà biết bị cáo có sử dụng ma túy, bà có khuyên bảo nhưng bị cáo không bỏ ma túy. Ngày 14/01/2024, lực lượng Công an khám xét nơi ở và thu giữ một số đồ vật liên quan đến ma túy. Nay, bà không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 14/01/2024).

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”, “KX1” và “KX2” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh giấy ăn màu trắng.
    • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 356245044119353, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định ma tuý của Phòng K - Công an tỉnh B, cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 14/01/2024, tại khu vực trước cửa số nhà A, ngõ A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, lực lượng Công an thành phố B bắt quả tang Nguyễn Tiến T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói giấy có chất ma tuý giám định là H có khối lượng 0,223 gam. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ 02 túi nilon có chất ma tuý giám định là H có khối lượng 3,306 gam và M có khối lượng 0,127gam. Tổng khối lượng hai chất ma tuý đã thu khi bắt quả tang và thu khi khám xét là 3,656 gam.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước.

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”.

Do đó, Cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:

4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, để giáo dục các bị cáo, theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[6]. Vấn đề khác:

  • 6.1. Đối với người bán ma tuý cho bị cáo T: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ngôi nhà theo lời khai của T xác định là nhà của anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986 ở số D, đê C, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, anh S hiện đang sinh sống cùng con trai là Nguyễn Hải N, sinh năm 2009. Ngày 15/01/2024, Cơ quan điều tra khám xét nhà anh S nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 15/01/2024 đối với anh S có kết quả âm tính với ma tuý. Anh S, cháu N đều khai không quen biết T và không bán ma tuý. Cơ quan điều tra kết luận không làm rõ được người đã bán ma tuý cho T, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, không xem xét.
  • 6.2. Đối với bà Nguyễn Thị D và chị Lại Thị G là mẹ và vợ của T cùng sinh sống tại số nhà B, hẻm A, ngách A, ngõ A, đường G, thành phố B nhưng không biết việc T tàng trữ ma tuý tại nhà nên Cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, không xem xét.
  • 6.3. Chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98B3-907.60 là tài sản của chị Lại Thị G cho T mượn làm phương tiện đi lái xe ôm. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lại Thị G, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

  • 7.1. Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”, “KX1” và “KX2” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh giấy ăn màu trắng;
  • 7.2. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 356245044119353, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8]. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • 2.1. Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”, “KX1” và “KX2” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh giấy ăn màu trắng.
    • 2.2. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 356245044119353, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  3. Án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cq CSĐT - Công an tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND phường Trần Phú, tp Bắc Giang;
  • - Trại giam CA tỉnh BG;
  • - Bị cáo;
  • -Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trần Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Tùng "Tàng trữ MT"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger