Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ANH SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:107/2024/ST – HNGĐ

Ngày 29 tháng 8 năm 2024

“V/v Yêu cầu ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú.

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Hải Yến, và ông Cao Thanh Sâm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Linh Chi – Chức vụ: Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Anh sơn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Mai – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2024/TLST–HNGĐ ngày 17/7/2024 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con” giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H – Sinh năm: 1983.

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Phan Văn N – Sinh năm: 1983

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trịnh Thị H vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị H trình bày:

Chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng xây dựng gia đình. Tuy nhiên khoảng mấy năm trở lại đây vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính cách, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh N không chịu khó làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu bê tha. Khi uống say còn về nhà chửi bới, xúc phạm vợ con. Mặc dù chính quyền địa phương và gia đình hai bên cũng như giáo họ hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thành. Anh N không những không thay đổi mà ngày càng tệ hơn. Hiện tại, chị H và anh N đã sống ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh N.

Về con chung: Chị H và anh N có 02 con chung: Cháu Phan Thị Tâm Đ, sinh ngày 04/12/2006 và cháu Phan Văn V, sinh ngày 01/6/2009. Sau khi vợ chồng ly thân cháu V sống với anh N còn cháu Đ hiện đang làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Đ và không yêu cầu anh N Phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa bị đơn anh Phan Văn N vắng mặt, tuy nhiên theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh N trình bày:

Chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến khoảng năm 2013 trở đi, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Không biết có lý do gì chị H thường xuyên cắt đứt liên lạc với anh N, bỏ nhà đi một vài ngày rồi lại quay về. Hiện tại, chị N đã bỏ nhà đi đã lâu, hai bên không còn chung sống với nhau nữa, anh N không rõ chị H đang ở đâu và cũng không liên lạc được với chị H. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn anh thì anh N không đồng ý vì tình cảm vợ chồng vẫn còn, có thể hàn gắn được.

Về con chung: Chị H và anh N có 02 con chung: Cháu Phan Thị Tâm Đ, sinh ngày 04/12/2006 và cháu Phan Văn V, sinh ngày 01/6/2009. Hiện cháu Đ đang đi làm ăn ở Bắc Ninh, còn cháu V đang sống với anh N và bà nội (mẹ anh N). Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh N có nguyện vọng được nuôi cả hai con, anh N không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cho anh.

Về tài sản chung và nợ: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự .

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H được ly hôn với anh Phan Văn N.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Tâm Đ, sinh ngày 04/12/2006 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung là cháu Phan Văn V, sinh ngày 01/6/2009 cho anh Phan Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trịnh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Phan Văn N cư trú tại tổ dân phố B, thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án cũng nhu tại phiên toà, nguyên đơn chị Trịnh Thị H và bị đơn anh Phan Văn N vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, do đó việc giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N kết hôn với nhau vào năm 2004 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An, hôn nhân là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trịnh Thị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh N vì vợ chồng không còn tình cảm nữa, hiện tại đang sống ly thân. Bị đơn anh Phan Văn N đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được đoàn tụ vì anh N vẫn còn tình cảm với chị H.

HĐXX xét thấy: Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2013 thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn và kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xẩy ra xung đột. Mặc dù được hai bên gia đình và giáo họ hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thành, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân (Bút lục 24 – 25 Hồ sơ vụ án). Mặc dù anh N đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho vợ chồng được đoàn tụ, tuy nhiên xét tình cảm giữa chị H, anh N thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị H là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh N có 02 con chung: Cháu Phan Thị Tâm Đ, sinh ngày 04/12/2006 và cháu Phan Văn V, sinh ngày 01/6/2009. Trường hợp ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Phan Thị Tâm Đ và đề nghị giao cháu Phan Văn V cho anh N nuôi dưỡng; Anh N đề nghi được nuôi cả 02 con. Chị H, anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy: Cháu Phan Thị Tâm Đ là con gái, trường hợp bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống cùng mẹ. Đối với cháu V, hiện tại cháu đang sống với anh N và bà nội, cháu V có nguyện vọng được sống với anh N trường hợp bố mẹ ly hôn vì cháu không muốn thay đổi môi trường sống và để chăm sóc bà nội. Do đó việc giao cháu Đ cho chị H và cháu V cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N không yêu cầu cấp dưỡng cho con

Về tài sản chung : Chị Trịnh Thị H, anh Phan Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị H.

  • * Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H được ly hôn anh Phan Văn N.
  • * Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Thị Tâm Đ, sinh ngày 04/12/2006 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành; Giao con chung là cháu Phan Văn V, sinh ngày 01/6/2009 cho anh Phan Văn N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
  • Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX không xét do chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  • * Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị H và anh Phan Văn N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • * Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007914 ngày 17/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn.
  • * Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn nơi người vắng mặt cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Anh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Anh Sơn;
  • - UBND thị trấn Anh Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Phú

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/ST – HNGĐ ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 107/2024/ST – HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Trịnh Thị H - Phan Văn Ng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger