|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:107/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Liệt
- Ông Lê Văn Dài
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 470/2023/TLST – DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:81B/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số:85/2024/QĐST ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Trương Thị L, sinh năm 1993
- Nơi cư trú: khóm A, Phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp
- - Bị đơn: anh Nguyễn Viết L1, sinh năm 1996
- Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
- (Chị L2L1 vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản khai, biên bản hoà giải nguyên đơn chị Trương Thị L: chị L, anh L1 tự quen biết và xác lập mối quan hệ vợ chồng vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 20/6/2018. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.
- Trong thời gian chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn, bất đồng ý kiến, tính tình không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và đến tháng 11/2019 chị L, anh L1 ly thân cho đến nay cũng không hàn gắn tình cảm đoàn tụ sống chung cùng nhau. Chị L yêu cầu ly hôn với anh L1 vì tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ chung sống cùng nhau.
+ Về con chung: chị L, anh L1 chung sống với nhau có 01 con chung họ và tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 12/7/2018, cháu K sinh sống với anh L nhất giao cháu K anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng, Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị L nguyện cấp dưỡng nuôi con con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 28/6/2024.
+ Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Nguyễn Viết L1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn anh L1 vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị L các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh L1 cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024. Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81B/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 85/QĐST – DS ngày 07 tháng 6 năm 2024, vụ án được xét xử vào lúc 14 giờ 30 ngày 28 tháng 6 năm 2024 bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Viết L hợp.
[2] Về nội dung:
- Về hôn nhân: Giữa chị L, anh L1 chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn. Việc kết hôn giữa chị L và anh L1 là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Chị L, anh L1 chung sống hạnh phúc và đến năm 2019 ly thân với nhau. Từ khi ly thân đến nay anh, chị không hàn gắn tình cảm sống chung lại với nhau được.
Xét thấy quan hệ hôn nhân phải xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai người, phải có tình cảm yêu thương, quan tâm đến nhau thì mới hạnh phúc. Chị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh L1, vì tình cảm không còn không có khả năng đoàn tụ chung sống với nhau. Vì vậy cho thấy mâu thuẩn giữa chị L, anh L1 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định“ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Cho nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh L1 là phù hợp.
[ 2.2 ] Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 người con, họ và tên là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 12/7/2018, cháu K sinh sống với anh L nhất giao cháu K anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu giải quyết việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, để tự thoả thuận riêng. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần cho cháu, xét điều kiện kinh tế, khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của các bên đương sự. Vì vậy giao cháu K cho anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng; Về Nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trương Thị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Chị L nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 28/6/2024 cho đến khi cháu Nguyễn Đăng K thành niên.
Chị L có quyền thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh L1 trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L xác định chị và anh L1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng không có ý kiến của anh L1, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Anh L1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị L anh L1 có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị L với anh Nguyễn Viết L1.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 12/7/2018 cho anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trương Thị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Chị L nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 28/6/2024 cho đến khi cháu Nguyễn Đăng K thành niên.
Chị L có quyền thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh làm trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Chị L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng 600.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0004343 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Chị L còn phải nộp thêm 300.000 đồng.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trinh |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị L với anh Nguyễn Viết L1.
