Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1981 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số G (số mới 25/28/272) đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Tạ Thị L; có vợ là Đinh Thị H (đã ly hôn) và 02 con; chung sống như vợ chồng với chị Vũ Thị Thúy N và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 140/HSST ngày 11/9/2003 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong án phí ngày 05/6/2007; Bản án số 186/HSST ngày 27/12/2005 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc Nguyễn Văn C phải chấp hành 12 tháng tù của Bản án số 140 ngày 11/9/2003 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền. Tổng hợp bản án buộc C phải chấp hành 21 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2007, chấp hành xong án phí ngày 17/4/2014; Bản án số 185/HSST ngày 20/11/2007 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2012, còn 4.800.000 đồng tiền phạt và 50.000 đồng án phí Nguyễn Văn C được miễn theo Quyết định miễn thi hành án số 142/2014/QĐTS-MTHADS ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền; bị bắt giữ ngày 29/6/2023, đến ngày 07/7/2023 chuyển tạm giam;

Bị hại: Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1979; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Phạm Thanh H1, sinh năm 1992 và anh Phạm Huy L1, sinh năm 1983; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đó anh Hoàng Văn M (sinh năm 1979, trú tại xóm A, xã H, huyện T, Hải Phòng) có vay vốn kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1), nên quen biết chị Phạm Thanh H1 (sinh năm 1992, trú tại phường Q, quận Đ, Hà Nội) là nhân viên của V1 chi nhánh H3. Khoảng tháng 4/2023, anh M có nhu cầu vay thêm 150.000.000 đồng để giải quyết việc kinh doanh, chị H1 muốn dùng tiền cá nhân để cho anh M vay nhưng sợ không đòi được tiền nên nhờ Nguyễn Văn C đứng ra cho anh M vay tiền hộ chị H1 (tiền do chị H1 cấp).

Ngày 26/4/2023, chị H1 đưa C đến nhà anh M để biết nhà và giới thiệu cho anh M biết C để liên hệ vay tiền của C. Sau khi đến nhà anh M về, C đồng ý giúp chị H1 đứng ra làm thủ tục cho anh M vay tiền, khi chị H1 về thì C hẹn anh M đến nhà C ở địa chỉ số B Đà Nẵng, V, Ngô Q, Hải Phòng để C cho vay tiền. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh M đến nhà C thỏa thuận vay 150.000.000 đồng, thời hạn vay một tháng, lãi suất 3000 đồng/ 1 triệu/ ngày, C đưa cho anh M 01 Giấy biên nhận mượn tiền (theo mẫu đánh máy C chuẩn bị từ trước chưa ghi thông tin số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay) và yêu cầu anh M ký tên, điểm chỉ vào Giấy biên nhận mượn tiền và để lại căn cước công dân của anh M cho C giữ. Sau đó, C gọi điện bảo chị H1 chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản của C số 14132257 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, chị H1 chuyển tiền cho C xong thì C chuyển tiền cho anh M, nhưng C cắt luôn tiền lãi vay 01 tháng là 13.500.000 đồng, còn chuyển khoản cho anh M 136.500.000 đồng vào tài khoản số 19033793059015 của anh M tại Ngân hàng T. Anh M vay được tiền thì ra về, C gọi điện cho chị H1 thông báo số tiền lãi thu được của anh M, C chuyển lại ½ số tiền lãi trên cho chị H1 là 6.750.000 đồng, số tiền lãi còn lại C hưởng. Sau một tháng, đến thời hạn anh M phải trả nợ, C đã nhiều lần gọi điện giục anh M trả nợ nhưng anh M không có tiền trả, anh M đã khất nợ thêm 01 tháng với lãi vay như nêu trên, C đồng ý. Ngày 28/5/2023, anh M chuyển tiền lãi vay cho C 13.500.000 đồng. Đến tháng 6/2023, anh M chuyển khoản trả tiền nợ gốc cho C tổng số 32.500.000 đồng, số tiền gốc còn lại anh M chưa trả do khó khăn, C đã nhiều lần điện thoại và tìm gặp anh M để đòi nợ nhưng anh M không gặp, C nhờ chị H1 tìm cách để C gặp anh M đòi nợ.

Đến chiều ngày 28/6/2023, chị H1 báo cho C biết đã hẹn được anh M đến quán cà phê số C M, quận H, Hải Phòng và bảo C đến gặp anh M. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đi gặp anh M, trên đường đi C gặp bạn là Trần Trung C1 (sinh năm 1984, trú tại số B C Cầu T, phường C, quận N, Hải Phòng) nên rủ Trung C1 đi cùng (C1 không nói rõ đi việc gì). Khi đến khu vực gần quán cà phê số C M thì C1 và Trung C1 vào ngồi ở quán đối diện uống nước, C1 gọi điện rủ bạn là Phạm Huy L1 (sinh năm 1983, trú tại số B C Đà Nẵng, phường C, quận N, Hải Phòng) đến uống nước. Anh L1 đi xe taxi đến, C1, Trung C1 và L1 ngồi uống nước trong quán thì C1 thấy anh M điều khiển xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 15B4-293.95 đến trước cửa quán C4 M, C1 một mình đi ra gặp anh M và yêu cầu anh M đi cùng C1 về nhà C1 để giải quyết việc trả nợ, anh M đồng ý. C1 chở anh L1, còn anh M chở anh Trung C1 cùng đi về nhà C1. Vừa về đến cổng nhà C1 thì C1 xuống xe chửi và đá anh M một phát vào bụng, anh M khụy xuống đất, anh Trung C1 thấy vậy vào can ngăn dìu anh M vào ghế trước cửa nhà ngồi, rồi anh Trung C1 và anh L1 vào trong nhà C1 ngồi uống nước. C1 ở ngoài sân chửi anh M, C1 cầm đoạn ống sắt dài 1,53m (dùng kéo cửa cuốn) vụt nhiều nhát vào vùng lưng, ngực anh M, dùng dép nhựa đập vào đầu, mặt anh M, rồi bắt anh M gọi điện cho người quen mang tiền đến để trả nợ thay cho anh M. Anh M có gọi điện hỏi vay tiền của một số người quen để trả nợ cho C1 nhưng không được, C1 tiếp tục đánh chửi anh M và bắt anh M phải bán xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 15B4-293.95 mà anh M đang sử dụng cho C1, C1 vào trong nhà lấy 01 Giấy bán xe (theo mẫu đánh máy C1 chuẩn bị từ trước chưa điền thông tin về xe), 01 hộp mực lăn tay ra bắt anh M ký, điểm chỉ vào Giấy bán xe, anh M sợ bị C1 đánh nên buộc phải ký, điểm chỉ vào Giấy bán xe của C1. Sau đó, C1 ra ngoài cổng dắt xe mô tô của anh M vào dựng ở sân rồi mở cốp xe lấy đồ đạc trả anh M, còn xe thì C1 giữ. Lúc này, các anh Trung C1 và L1 ngồi trong nhà C1 ra về, C1 chửi anh M và cầm đoạn tuýp sắt dài khoảng 53cm vút vào người anh M mấy cái rồi bắt anh M gọi điện cho người nhà mang tiền đến trả cho C1. Anh M đã gọi điện cho ông Đinh Như C2 sinh năm 1962, trú tại thôn B, xã L, huyện T, Hải Phòng bảo ông C2 đến cứu giúp. Sau đó, ông C2 gọi điện báo cho chị Hoàng Thị H2 sinh năm 1975, trú tại thôn A, xã H, huyện T, H biết sự việc. Ông C2 và chị H2 tìm đến nhà gặp C1 xin khất nợ cho anh M, nhưng C1 không đồng ý. C1 dùng chân đạp vào vai anh M bắt phải trả tiền, ông C2 và chị H2 vào can ngăn C1, rồi Công an phường V đến làm việc.

Ngày 28/6/2023, anh Hoàng Văn M làm đơn trình báo Công an quận N về vụ việc trên.

Ngày 29/6/2023, Nguyễn Văn C bị giữ khẩn cấp.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn C, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 tuýp sắt màu trắng dài khoảng 53cm có khớp nối ở giữa; 01 đoạn ống sắt dài 1,53m một đầu bịt nhựa trắng, một đầu có hàn móc (dùng kéo cửa cuốn); 01 đôi dép nhựa màu xanh đậm; 01 Giấy biên nhận mượn tiền có chữ ký, điểm chỉ của Hoàng Văn M; 01 Giấy bán xe có chữ ký, điểm chỉ của Hoàng Văn M; 01 hộp mực lăn tay màu xanh; 01 xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 15B4-293.95; 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn M.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng của Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: 01 xe mô tô 02 bánh đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát 15B4-293.95, số khung RLHJF6325KZ035733, số máy JF63E-2435611. Đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 23.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn C và bị hại Hoàng Văn M khai nhận toàn bộ nội dung nêu trên và C còn khai: Nguồn gốc số tiền C cho anh M vay do chị Phạm Thanh H1 cấp, chị H1 có hẹn anh M đến quán C5 để C gặp anh M đòi nợ, việc C đánh chửi anh M là bột phát, chị H1 không biết, do C bực tức anh M nhiều lần thất hẹn với C và do không hiểu biết pháp luật nên C đánh anh M để bắt anh M phải trả nợ. C ép anh M viết giấy bán xe và giữ xe mô tô của anh M. C tình cờ gặp anh Trung C1, anh L1 nên rủ đi uống nước cùng, C1 không bàn bạc gì với Trung C1 và L1 về việc đòi nợ C1, khi thấy C1 đánh anh M thì Trung C1 và L1 còn can ngăn C1.

Anh Hoàng Văn M khai có vay lãi 150.000.000 đồng của C1, anh M đã trả tiền lãi vay được 02 tháng và trả được 32.500.000 đồng tiền nợ gốc, vì khó khăn nên chưa trả số tiền nợ còn lại. C1 đã gọi điện thúc giục đòi nợ nhiều lần không có tiền trả nên anh M tránh gặp C1, đợi có tiền sẽ liên hệ trả C1. Tối ngày 28/6/2023, anh M gặp C1 thì bị C1 yêu cầu anh M về nhà C1 và đánh chửi làm anh M rất sợ hãi phải làm theo yêu cầu của C1. C1 ép anh M phải ký, điểm chỉ vào Giấy bán xe do C1 chuẩn bị trước để C1 giữ xe mô tô của anh M, mặc dù anh M không muốn. Việc C1 dùng tuýp sắt, dép nhựa và chân tay đánh anh M, do thương tích nhẹ chỉ bị bầm tím ngoài da vùng mặt, bả vai, cổ bàn tay hai bên đã tự khỏi, anh M có đơn xin từ chối giám định thương tích.

- Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 Giấy biên nhận mượn tiền; 01 Giấy bán xe có chữ ký, điểm chỉ anh M đưa vào hồ sơ vụ án;

Đối với 01 xe mô tô 02 bánh đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát 15B4-293.95, do anh M đăng ký chủ sở hữu. Kết quả giám định số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất, không bị tẩy xóa; 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn M. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh M;

Đối với 01 tuýp sắt màu trắng dài khoảng 53cm có khớp nối ở giữa; 01 đoạn ống sắt dài 1,53m một đầu bịt nhựa trắng, một đầu có hàn móc (dùng kéo cửa cuốn); 01 đôi dép nhựa màu xanh đậm; 01 hộp mực lăn tay màu xanh, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.

4

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo C1 đã tác động gia đình tự nguyện đến bồi thường thương tích cho anh M số tiền 10.000.000 đồng, anh M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSNQ ngày 28/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn văn C3 về tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Bị hại anh Hoàng Văn M vắng mặt tại phiên toà có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Người làm chứng chị Phạm Thanh H1, anh Phạm Huy L1 vắng mặt tại phiên toà đã được công bố lời khai có trong hồ sơ phù hợp thống nhất với lời khai của bị cáo.

Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 09 tháng tù. Không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị: tịch thu tiêu huỷ 01 tuýp sắt màu trắng dài khoảng 53cm có khớp nối ở giữa; 01 đoạn ống sắt dài 1,53m một đầu bịt nhựa trắng, một đầu có hàn móc (dùng kéo cửa cuốn); 01 đôi dép nhựa màu xanh đậm; 01 hộp mực lăn tay màu xanh. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Xuất phát từ việc anh Hoàng Văn M vay 150.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn C đến hạn không trả hết nợ. Tối ngày 28/6/2023, bị cáo C gặp và yêu cầu anh M về nhà C ở địa chỉ số B Đà Nẵng, V, Ngô Q, Hải Phòng. Tại đây, C dùng 02 đoạn tuýp sắt (01 đoạn dài 53cm, 01 đoạn dài 153cm), 01 đôi dép nhựa đánh, chửi làm anh M hoảng sợ, không thể chống cự được để đòi tiền anh M. Anh M không có tiền trả thì C ép anh M phải ký và điểm chỉ vào Giấy bán xe (do C chuẩn bị từ trước) nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô Honda Air Blade biển kiểm soát 15B4-293.95, trị giá 23.000.000 đồng của anh M.

[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Do bị cáo đã sử dụng phương tiện nguy hiểm là tuýp sắt dài để tấn công anh M nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là Thượng uý Tạ Xuân L2 được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương quân công và nhiều thành tích khác trong Q1. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ và quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo đã có 03 riền án mặc dù đã được xoá án nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cải tạo tại cơ sở giam giữ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi ấn định hình phạt cũng cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 tuýp sắt màu trắng dài khoảng 53cm có khớp nối ở giữa; 01 đoạn ống sắt dài 1,53m một đầu bịt nhựa trắng, một đầu có hàn móc (dùng kéo cửa cuốn); 01 đôi dép nhựa màu xanh đậm; 01 hộp mực lăn tay màu xanh do đây là công cụ phương tiện phạm tội. Đối với 01 Giấy biên nhận mượn tiền; 01 Giấy bán xe có chữ ký, điểm chỉ anh M đưa vào hồ sơ làm tài liệu chứng cứ của vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Đối với 01 xe mô tô 02 bánh đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát 15B4-293.95, do anh M đăng ký chủ sở hữu. Kết quả giám định số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất, không bị tẩy xóa; 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn M. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh M là đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, bị cáo C đã tác động gia đình tự nguyện đến bồi thường thương tích cho anh M 10.000.000 đồng, anh M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nội dung này.

[12] Trong vụ án này, chị Phạm Thanh H1 nhờ bị cáo Nguyễn Văn C đứng ra cho anh M vay tiền hộ, nhưng chị H1 không biết việc C đánh và chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh M; các anh Trần Trung C1, Phạm Huy L1 đi cùng C1 để uống nước, có chứng kiến vụ việc nhưng không tham gia cùng C1 đánh, chửi và chiếm đoạt chiếc xe mô tô của M, nên không có căn cứ xử lý.

[13] Đối với việc chị Phạm Thanh H1Nguyễn Văn C cho anh Hoàng Văn M vay 150.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày, chị H1 và C đã thu được 02 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 27.000.000 đồng, nên hành vi này của chị H1 và C chưa cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Đây là quan hệ dân sự nên không giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí:

[14] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt.

Bị cáo Nguyễn Văn C 7 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2023.

7

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 tuýp sắt màu trắng dài khoảng 53cm có khớp nối ở giữa; 01 đoạn ống sắt dài 1,53m một đầu bịt nhựa trắng, một đầu có hàn móc (dùng kéo cửa cuốn); 01 đôi dép nhựa màu xanh đậm; 01 hộp mực lăn tay màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại anh Hoàng Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng về cướp tài sản

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger