Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Quang Nghĩa.
  2. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1948 và bà Võ Thị Ngọc T, sinh năm: 1960; Chồng: Lầu Minh H, sinh năm: 1984 (đã ly hôn năm 2022); có 01 người con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị P, sinh năm: 1985 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  2. Ông Nguyễn Hoàng H1, sinh năm: 1986 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bà Phạm Thị Tuyết M1, sinh năm: 1971(Vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  4. Ông Đinh Vũ Hoàng P1, sinh năm: 2005 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Ngọc NTrần Thị P là bạn bè quen biết nhau. Vào khoảng cuối tháng 11/2023, N thuê nhà của chị Phạm Thị Tuyết M1 tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để kinh doanh mua bán nước, cắt tóc, gội đầu, lấy ráy tai cho khách. Trong lúc NP nói chuyện với nhau thì P hỏi N “tại quán có ai đến hỏi masage kích dục hay mua dâm hay không” thì N nói “có nhưng không có ai làm, nếu em thích thì xuống quán masage kích dục với bán dâm” thì chị P đồng ý. Vào khoảng chiều ngày 11/12/2023, P gọi điện thoại cho N và nhờ N chạy lên xã X, huyện X để chở P xuống quán của N chơi. Khi đến quán thì P bàn bạc với N về việc Phấn sẽ masage kích dục và bán dâm cho khách nam tại quán của N thì N đồng ý. Mỗi khi có khách đến kích dục hoặc mua dâm thì P sẽ lấy tiền nước là 20.000 đồng đối với cà phê, nước ngọt và 30.000 đồng với 01 lon nước bò húc rồi đưa cho N. Trước khi P đến quán của N thì mỗi khi có khách đến uống nước thì N sẽ lấy 15.000 đồng đối với một ly cà phê hoặc một chai nước ngọt và 20.000 đồng đối với 01 lon nước bò húc.

Vào khoảng hơn 14 giờ ngày 18/12/2023, Nguyễn Hoàng H1Đinh Vũ Hoàng P1 đến quán nước của N để uống nước. Do biết tại quán có bán dâm nên Nguyễn Hoàng H1 hỏi P “ở đây có masage kích dục với bán dâm hay không” thì P trả lời có và H1 hỏi bán dâm bao nhiêu thì P trả lời là 350.000 đồng/ 01 lần bán dâm thì H1 đồng ý. H1 đưa cho P số tiền mua dâm là 350.000 đồng. Sau đó, H1P vào trong phòng ngủ phía sau quán của N để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi H1P đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì Công an xã X vào kiểm tra hành chính phát hiện.

Quá trình điều tra, Trần Thị P khai nhận từ ngày 11/12/2023 đến ngày bị bắt 18/12/2023, P đã bán dâm tại quán của Nguyễn Thị Ngọc N 03 lần và kích dục cho khách được 02 lần. Nguyễn Thị Ngọc N khai nhận thấy P bán dâm được khoảng 4 - 5 lần. Nguyễn Hoàng H1 khai nhận ngoài lần mua dâm bị Công an bắt vào ngày 18/12/2023 thì trước đó vào ngày 16/12/2023 cũng đã đến quán mua dâm với Trần Thị P 01 lần với số tiền 350.000 đồng. Khi đến mua dâm thì Nguyễn Thị Ngọc N cũng có mặt tại quán.

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng (đã tiến hành tiêu hủy theo quy định.

  • 01 (một) bao cao su nhãn hiệu DOCTOR; 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa sử dụng.

  • Số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị P2. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền P2 thực hiện hành vi mua bán dâm mà có.

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPP0 A92, màu xanh, bên trong gắn sim số 0908.171.321 do Nguyễn Thị Ngọc N giao nộp. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của N, N đã sử dụng điện thoại di động này để liên lạc với Trần Thị P để cho P bán dâm tại quán của N.

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xanh lam, bên trong gắn sim số 0939.409.091 do Trần Thị P giao nộp.

Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKSXL ngày 09 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phạm tội: “Chứa mại dâm”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án, tiền sự, có con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N từ 05 năm đến 05 năm 04 tháng tù.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xanh lam; số tiền 350.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su nhãn hiệu DOCTOR; 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa sử dụng; sim số 0908.171.321; sim số 0939.409.091.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với Bản Cáo trạng, Bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Từ ngày 11/12/2023 đến ngày 18/12/2023, Nguyễn Thị Ngọc N đã có hành vi cho Trần Thị P nhiều lần sử dụng phòng ngủ do mình quản lý tại ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để P thực hiện hành vi mua, bán dâm. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N đã phạm tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

  3. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình, đã ly hôn chồng đang trực tiếp nuôi con nhỏ, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  6. Đối với Trần Thị P, Nguyễn Hoàng H1 đã có hành vi bán dâm, mua dâm nên xử phạt vi phạm hành chính đối với PH1 là phù hợp.

    Đối với bà Phạm Thị Tuyết M1 đã cho Nguyễn Thị Ngọc N thuê nhà của mình để mở quán bán cà phê, bà M1 không biết việc N chứa mại dâm nên không đưa ra hình thức xử lý đối với bà M1 là phù hợp.

  7. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPP0 A92, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xanh lam; số tiền 350.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su nhãn hiệu DOCTOR; 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa sử dụng; sim số 0908.171.321; sim số 0939.409.091.

  8. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  9. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phạm tội: “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xanh lam; số tiền 350.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su nhãn hiệu DOCTOR; 02 bao cao su nhãn hiệu VIP chưa sử dụng; sim số 0908.171.321; sim số 0939.409.091.

(Các vật chứng đã được chuyển đến chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/4/2024 và giấy nộp tiền ngày 12/4/2024).

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội chứa mại dâm)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chứa mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger