TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày 27/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và ông Hà Hữu Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều N - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN D; sinh ngày 10/11/1979 tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Thẻ CCCD số: [...]; Cấp ngày: 02/3/2023; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không: Trình độ học vấn: 07/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Bảo K, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1949; vợ: Ngô Vân K1, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;
+/ Nhân thân của bị cáo:
- Ngày 18/3/1997, Toà án nhân dân thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (Nay là Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang) xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Ngày 25/10/2002, Toà án nhân dân thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (Nay là Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang) xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 11/11/2008, Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Ngày 15/8/2012, Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 09/02/2018 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là người sử dụng trái phép chất ma túy, do không có việc làm nên H nảy sinh ý định đi mua ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Mạnh H đi đến khu vực bến xe khách, thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp và mua được của một người đàn ông (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng với giá 3.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, H cất vào túi quần đang mặc rồi đi đến nhà chị Hoàng Thị P, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố F, phường H, thành phố T (H và P chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà P từ giữa năm 2023). Tại nhà chị P, H lấy một phần ma tuý vừa mua được ra sử dụng một mình bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể rồi chia số ma túy còn lại ra thành 09 gói nhỏ. Trong đó 08 gói được gói bằng giấy nhiều màu; 01 gói được gói ngoài bằng giấy lịch đều buộc dây cao su bên ngoài, mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, H đang ở nhà P thì Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, nơi ở tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T gọi điện cho H hỏi mua ma tuý với số tiền là 800.000đ. H đồng ý và bảo D đến nhà P để lấy ma tuý. D một mình đi xe đạp đến nhà P, D gặp và đưa cho H 800.000 đồng, H lấy 01 gói ma tuý được bọc ngoài bằng giấy nhiều màu đưa cho D, D cất vào túi áo đang mặc rồi đi về nhà. Khi D đi đến khu vực đường P, thuộc tổ dân phố D, phường H, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Nguyễn Văn D 01 gói ma túy có đặc điểm như trên.
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Mạnh H và Hoàng Thị P tại số nhà E, tổ dân phố F, phường H, thành phố T. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ: 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi có 07 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nhiều màu và buộc dây cao su; 01 gói được gói ngoài bằng giấy lịch buộc dây cao su, bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng; số tiền 800.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Văn D đều cho kết quả (+) dương tính với chất ma túy (Heroine). Nguyễn Văn D khai nhận, ngày 31/5/2024 D mua ma túy của người đàn ông tên P1 (không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể) tại khu vực gần cầu N, thành phố T. Sau đó, D đã sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể.
Kết luận giám định số 772/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: 08 gói chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Mạnh H gửi giám định là chất ma tuý loại Heroine. Tổng trọng lượng 2,443g (Hai phẩy bốn bốn ba gam).
Kết luận giám định số 773/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: 01 gói chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D gửi giám định là chất ma tuý loại Heroine có trọng lượng 0,200g (Không phẩy hai không không gam).
Trong giai đoạn điều tra Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Văn D cùng nhất trí với kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh T.
Cáo trạng số 106/CT-VKSTP ngày 13 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn D, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Về hình phạt: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng của vụ án: Trong giai đoạn điều tra Nguyễn Mạnh H chết vào ngày 12/6/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Mạnh H, tuy nhiên đối với các vật chứng đang tạm giữ nêu trên của Nguyễn Mạnh H đều liên quan đến hành vi phạm tội và do phạm tội mà có trong cùng vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn D nên đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng của Nguyễn Mạnh H dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Mobell, vỏ máy màu trắng, đen, loại máy có bàn phím, bên trong lắp 01 thẻ sim V; 800.000đ (T trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đã được chuyển theo Quyết định số: 191/QĐ-STC ngày 05/8/2024 “V/v chuyển tiền từ Tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Sở Tài chính vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang”.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng của bị cáo Nguyễn Văn D dùng vào việc phạm tội: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J3, vỏ máy màu vàng, loại màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel; 01 xe đạp nhãn hiệu Asama màu trắng (Điện thoại và xe đạp đã qua sử dụng).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông màu trắng, bên trong đựng 07 gói Heroine có trọng lượng 1,657 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 1,607 gam; 01 gói bên trong gói chứa Heroine trọng lượng 0,786 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,736 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Mạnh H Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T;
- 01 gói chứa Heroine trọng lượng 0,200 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,150 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn D Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T.
- Về án phí: Do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo đồng thời Bị cáo D có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn D: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo là người nghiện nên bị cáo đã mua ma tuý của Nguyễn Mạnh H về tàng trữ để sử dụng cho chính bản thân. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định số 772/KL-KTHS; 773/KL-KTHS ngày 07/6/2024; của Phòng K2 Công an tỉnh T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn D, gọi điện cho Nguyễn Mạnh H hỏi mua 800.000₫ ma tuý. H đồng ý và bảo D đến nhà P là người chung sống với H để cùng nhau mua bán ma tuý. D đi xe đạp đến nhà P gặp và đưa cho H 800.000 đồng khi nhận được tiền H đưa cho bị cáo D 01 gói ma tuý được bọc ngoài bằng giấy nhiều màu, D cất gói ma tuý vào túi áo đang mặc rồi đi về nhà. Khi D đi đến khu vực đường P, thuộc tổ dân phố D, phường H, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
[3]. Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. ”
[4]. Căn cứ vào số lượng ma tuý mà Nguyễn Mạnh H đã bán 0,200g gam Heroine cho bị cáo Nguyễn Văn D với mục đích để tàng trữ sử dụng cho bản thân. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Tại Trích lục khai tử số: 134/TLKT-BS ngày 18/6/2024 của UBND phường T, thành phố T, xác định Nguyễn Mạnh H đã chết vào hồi 19h06’ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can số: 986/QĐ-CSMT; Quyết định đình chỉ điều tra bị can số: 987/QĐ-CSMT cùng ngày 10/7/2024 đối với bị can Nguyễn Mạnh H là có căn cứ đúng pháp luật.
[6]. Xét yếu tố cấu thành của tội phạm: Bị cáo D là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy đã bị Toà án xét xử 01 lần về tội mua bán trái phép chất ma tuý và xử phạt 07 năm 06 tháng tù nên phải nhận thức rõ trong tình hình hiện nay ma túy đang là nguyên nhân chính làm gia tăng các loại tội phạm nguy hiểm, bạo lực trong gia đình và xã hội, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá của con người, gây sói mòn đạo lý, tàn phá cuộc sống yên vui của những gia đình có người bị nghiện, gây thiệt hại về kinh tế xã hội, nghiêm trọng hơn, ma túy còn là tác nhân chính sinh ra căn bệnh HIV - AIDS đang ngày càng phát triển mạnh, do đó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng cho cá nhân, bị cáo D đã cố ý coi thường pháp luật để mua ma tuý về tàng trữ trái phép như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm trong tình hình hiện nay.
[7]. Xét tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhân thân xấu thể hiện trong khoảng thời gian từ ngày 18/3/1997 đến ngày 11/11/2008 bị Toà án xét xử 03 lần về tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản; Ngày 15/8/2012, bị Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt 07 năm 06 tháng tù đến ngày 09/02/2018 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ quyết định của bản án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tự cải tạo thay đổi bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua ma tuý về tàng trữ trái phép nhằm mục đích thoả mãn cơn nghiện cho bản thân. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải và hứa sẽ quyết tâm cai nghiện trong thời gian thi hành án. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[8]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9]. Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Mạnh H 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi đựng 07 gói chứa Heroine có trọng lượng 1,657 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 1,607 gam; 01 gói chứa Heroine có trọng lượng 0,786 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,736 gam. Số Heroine còn lại cùng được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Mạnh H Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Mobell, vỏ máy màu trắng, đen, loại máy có bàn phím, bên trong lắp 01 thẻ sim V; 800.000đ (T trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1.
Thu giữ của Nguyễn Văn D: 01 gói bên trong chứa Heroine có trọng lượng 0,200 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,150 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn D Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J3, vỏ máy màu vàng, loại màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel; 01 xe đạp nhãn hiệu Asama màu trắng (Điện thoại và xe đạp đã qua sử dụng).
[10]. Do Nguyễn Mạnh H đã chết vào hồi 19h06' ngày 12/6/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Mạnh H, tuy nhiên đối với các vật chứng đang tạm giữ nêu trên của Nguyễn Mạnh H đều liên quan đến hành vi phạm tội và do phạm tội mà có trong cùng vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn D nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
[11]. Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng của Nguyễn Mạnh H dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Mobell, vỏ máy màu trắng, đen, loại máy có bàn phím, bên trong lắp 01 thẻ sim V; 800.000₫ (T trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đã được chuyển theo Quyết định số: 191/QĐ-STC ngày 05/8/2024 “V/v chuyển tiền từ Tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Sở Tài chính vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang".
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng của bị cáo Nguyễn Văn D dùng vào việc phạm tội: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J3, vỏ máy màu vàng, loại màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel; 01 xe đạp nhãn hiệu Asama màu trắng (Điện thoại và xe đạp đã qua sử dụng).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông màu trắng, bên trong đựng 07 gói Heroine có trọng lượng 1,657 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 1,607 gam; 01 gói bên trong gói chứa Heroine trọng lượng 0,786 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,736 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Mạnh H Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T;
- 01 gói chứa Heroine trọng lượng 0,200 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,150 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn D Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T.
[12]. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng thời bị cáo có đơn xin miễn án phí. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[13]. Trong vụ án còn có những tình tiết: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Mạnh H, do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra.
Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D đã mua ma tuý của người đàn ông tên P1 vào ngày 31/5/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được họ, đệm, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với Nguyễn Thị P2, quá trình điều tra xác định: P2 không biết và không được hưởng lợi gì từ việc Nguyễn Mạnh H cất giấu và bán ma tuý cho Nguyễn Văn D tại nhà P2 ở tổ dân phố F, phường H, thành phố T, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Do không có cơ sở, căn cứ để giải quyết các tình tiết nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Hình phạt:
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm 04 ( B) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/6/2024.
3. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, vỏ máy màu trắng đen, loại máy có bàn phím, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J3, vỏ máy màu vàng, loại màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel ; 01 xe đạp nhãn hiệu Asama màu trắng; 800.000đ (T trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đã được chuyển theo Quyết định số: 191/QĐ-STC ngày 05/8/2024 “V/v chuyển tiền từ Tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Sở Tài chính vào tài khoản số 39490106484800000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang mở tại K Nhà nước Tuyên Quang. Tại Giấy nộp tiền số: 03, lập ngày 19/8/2024.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông màu trắng, bên trong đựng 07 gói Heroine có trọng lượng 1,657 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 1,607 gam; 01 gói bên trong gói chứa Heroine trọng lượng 0,786 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,736 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Mạnh H Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T;
- 01 gói chứa Heroine trọng lượng 0,200 gam, sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,150 gam. Số ma tuý còn lại cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn, bên ngoài mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn D Giám định ngày 02/6/2024", mặt sau tại mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh T.
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa Công an Thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Bị cáo Nguyễn Văn D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
5. Báo cho Bị cáo Nguyễn Văn D biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Hiền |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN DŨNG PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
