|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 7 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn
Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2023/TB-TA ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/01/1985, (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Tuấn E, sinh năm 1983, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Phạm văn T Em sống chung với nhau trên tình thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/08/2006 theo giấy kết hôn số 65, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Trong quá trình chung sống, bà và ông E có 2 người còn chung tên Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005 (nữ) đã trưởng thành và có cuộc sống riêng và Phạm Yến N, sinh ngày 30/07/2011(nữ), đang sống chung với bà. Trong thời gian đầu, bà và ông E sống rất hạnh phúc nhưng sau đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và nhận thấy không thể sống chung được nữa. Bà và ông E đã ly thân không sống chung từ năm 2022 cho đến nay.
Nay bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L xin được ly hôn với ông Phạm Văn T1 Em.
- - Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005, đã trưởng thành phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và có cuộc sống riêng bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Pham Yến N1, sinh ngày 30/7/2011, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, riêng bị đơn ông Phạm Văn T1 Em vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với ông Phạm Văn Tuấn E, cho bà L và ông E ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; về con chung: cháu Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005, đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Phạm Yến N2, sinh ngày 30/7/2011, đang sống chung với chị L và chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N2 đến trưởng thành và lời trình bày của cháu N2 muốn được sống chung với mẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Yến N2, sinh ngày 30/7/2011 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành, bà L không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung, bà L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung, không có, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với ông Phạm Văn Tuấn E; bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Yến N2, sinh ngày 30/7/2011 đến tuổi trưởng thành, Bà L không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung, không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, riêng bị đơn ông Phạm Văn Tuấn E, tòa án đã triệu tập hợp lệ để xét xử lần thứ hai, nhưng anh T2 vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Phạm Văn T1 Em sống chung với nhau trên tình thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/08/2006 theo giấy kết hôn số 65, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Trong quá trình chung sống, bà và ông E có 2 người còn chung tên Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005 (nữ) đã trưởng thành và có cuộc sống riêng và Phạm Yến N, sinh ngày 30/07/2011(nữ), đang sống chung với bà. Trong thời gian đầu, bà và ông E sống rất hạnh phúc nhưng sau đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và nhận thấy không thể sống chung được nữa. Bà và ông E đã ly thân không sống chung từ năm 2022 cho đến nay. Do vậy việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông E là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L và giải quyết cho bà L được ly hôn với ông E.
[2] Về con chung: Hiện nay, cháu Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005, đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Phạm Yến N2, sinh ngày 30/07/2011(nữ) đang sống chung với bà L, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N2 đến đủ 18 tuổi và nguyện vọng cháu N2 muốn được sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Phạm Yến N2, sinh ngày 30/07/2011(nữ) cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, ông E không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
[3] Về tài sản chung: bà L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Từ những phân tích nêu trên nhận thấy, đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Phạm Văn Tuấn E
- - Về con chung: Giao cháu Phạm Yến N2, sinh ngày 30/07/2011(nữ) cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi cho đến khi cháu N2 đủ 18 (Mười tám) tuổi, ông Phạm Văn T1 Em không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà L không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét. Riêng con chung Phạm Thị Hoàng D, sinh ngày 30/01/2005, nay đã trưởng thành phát triển bình thường về thể chất, tinh thần có cuộc sống riêng, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Sau khi ly hôn, ông Phạm Văn T1 Em có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét; Về nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005367 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để xin Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhẫn |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
