Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS - ST

Ngày 26 - 4 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương Linh
  2. Bà Phạm Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Nam Hưng – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:Nguyễn Hải S, tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 3 năm 1999, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hải Đ và bà Trịnh Thị L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09/9/2016, bị Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 09/9/2016; ngày 18/4/2018, bị Công an huyện C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 23/4/2018.

Bị cáo đầu thú ngày 08/9/2023, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Bị hại: Anh Lò Văn H, sinh năm 1992; nơi cư trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

2

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Khắc N, có mặt.
  2. Anh Nguyễn Đình N1, có mặt.
  3. Anh Nguyễn Tuấn T, có mặt.
  4. Chị Lê Thị V, vắng mặt.
  5. Anh Lê Đình T1, vắng mặt.
  6. Anh Lò Văn T2, sinh ngày 19/8/2006, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Lò Văn T2: Ông Lò Văn K, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên là bố đẻ của anh T2, vắng mặt.

  1. Chị Lò Thị T3, sinh ngày 05/9/2006, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của chị Lò Thị T3: Ông Lò Văn C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên là bố đẻ của chị T3, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hải S và anh Nguyễn Khắc N (sinh năm 1998, nơi thường trú: thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Quảng Ninh) là bạn quen biết từ trước. Ngày 04/9/2023, S từ huyện C vào chơi với anh N và ở cùng phòng trọ tại tổ A, khu D, phường H, thành phố H. Trong thời gian này, S quen biết chị Lò Thị T3 (tên thường gọi là T4, sinh năm 2006, nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên) và các anh Nguyễn Đình N1 (sinh năm 1995, nơi thường trú: thôn D, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên); anh Nguyễn Tuấn T (sinh năm 2003; nơi tạm trú: tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) do sống cùng khu nhà trọ với anh N. Khoảng 03 giờ ngày 08/9/2023, S cùng anh N1 và anh T đến quán “Bích Việt” của chị Lê Thị V ở tổ H, khu H, phường H, thành phố H, cách khu trọ khoảng 300 mét để ăn đêm. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, nhóm các anh Lò Văn H, Lò Văn T2 (sinh năm 2006; nơi thường trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên) và Lê Đình T1 (sinh năm 2002; nơi thường trú: Khu phố A, thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) cũng đến quán “Bích Việt” để ăn đêm. Đến quán, thì nhóm anh H tình cờ gặp chị T3 là bạn của anh T2 cũng đến, nên đã mời vào ăn sáng, uống rượu, bia cùng. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, nhóm của S đi về phòng trọ trước, nhưng do quên mua thuốc lá nên S quay lại quán “Bích Việt” để mua. Cùng lúc này, các anh H, T2, T1 và chị T3 cũng ăn sáng xong và đang ngồi uống nước chè chờ xe taxi đón ra về. S đến quán, nhìn thấy chị T3 có biểu hiện say rượu nên đã bảo chị T3 đi về phòng trọ, thì chị T3 không đồng ý. Nghĩ rằng, anh H rủ chị T3 đi chơi nên S đã nói với anh H……

3

chúng mày thích rủ T3 đi chơi không?”. Lúc này, anh H trả lời “bọn em không rủ, nó tự đi theo bọn em, bọn em bảo nó về nhưng nó không về”. S tiếp tục chửi bởi, lăng mạ nhóm anh H, rồi nói: “chúng mày ở đây chờ tao một tí”. Sau đó, S đi bộ về phòng trọ của anh N lấy 01 (một) gậy rút ba khúc bằng kim loại màu đen, chiều dài lớn nhất khi rút ra hết là 65cm, có cán bọc bằng cao su màu đen dài 23cm, quay lại quán “Bích Việt”, mục đích để đánh anh H. Đến nơi, S yêu cầu và kéo anh H đi ra trước cửa quán S1 ở cạnh quán “Bích Việt” để nói chuyện. Tại đây, cả hai tiếp tục cãi chửi nhau về việc trước đó S nghi ngờ anh H rủ chị T3 đi chơi H phủ nhận và nói chị T3 tự nguyện đi cùng anh H. Bất ngờ, S dùng chân phải đạp 01 phát trúng vào bụng trái anh H, tiếp đó S dùng tay phải lấy từ trong túi quần bên phải ra 01 gậy ba khúc bằng kim loại vụt 01 phát về phía anh H, anh H giơ tay trái lên đỡ thì bị trúng vào phần cẳng tay bên trái. Anh H bỏ chạy, S đuổi theo dùng gậy ba khúc vụt tiếp 01 phát về phía anh H, anh H quay lại giơ tay trái lên đỡ thì trúng vào phần căng tay bên trái. Thấy vậy, các anh T2, T1 vào can ngăn, thì anh H bỏ chạy. Đúng lúc đó, xe taxi đến đón, anh H lên xe taxi ngồi ở ghế sau ghế phụ, nhưng chưa kịp đóng cửa, thì S chạy đến túm áo anh H kéo ra nhưng không được; anh H đóng cửa xe lại, lái xe taxi điều khiển xe ô tô quay đầu xe định đi về phường B. Thấy vậy, S tiếp tục chạy sang đường đối diện, chặn đầu xe ô tô, mở cửa xe, kéo anh H xuống xe; khi anh H vừa ra khỏi xe trong tư thế khom người thì S dùng tay phải cầm gậy ba khúc vụt 01 phát vào bả vai trái của anh H, thì được mọi người can ngăn; anh H chạy lên vỉa hè, nhưng S vẫn cầm gậy ba khúc ở tay phải vụt 01 phát vào vùng trán anh H. Sau đó, anh H được mọi người đưa đến bệnh viện B điều trị, còn S vứt gậy ba khúc tại hiện trường rồi đón xe khách đi sang phía H. Cùng ngày anh T1 đến Công an phường H trình báo sự việc. Đến 23 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, S đến Công an thành phố H xin đầu thú.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường xảy ra vụ án là khu vực vỉa hè trước cửa quán B1, cửa hàng S2; lòng đường và vỉa hè đường Quốc lộ 18, đoạn thuộc tổ H, khu H, phường H, thành phố H. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Hải S xác định 02 vị trí gây thương tích cho anh Lò Văn H phù hợp với nội dung vụ án.

Tiến hành rà soát xung quanh hiện trường, phát hiện camera tại cửa hàng S2 trong khoảng thời gian 06 giờ 13 phút 02 giây đến 06 giờ 13 phút 53 giây ghi lại hình ảnh S đánh anh H phù hợp với nội dung vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu vào 01 (một) đĩa DVD.

4

Ngày 14/9/2023, chị T3 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 (một) chiếc gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, có chiều dài lớn nhất khi rút ra hết là 65cm, chiều dài khi rút gọn là 24cm, có cán bọc bằng cao su màu đen dài 23cm, đường kính từ 1,5-2,5cm, xác định là chiếc gậy S đã vứt lại hiện trường và chị T3 nhặt được. Cơ quan điều tra tiến hành cho S, anh H, anh T2 nhận dạng chiếc gậy 3 khúc nêu trên, kết quả đều xác nhận đây là hung khí S đã sử dụng đánh gây thương tích cho anh H.

Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm nước tiểu của S ngày 09/9/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q, kết quả: dương tính với M.

Biên bản xác minh thương tích ban đầu của anh Lò Văn H tại Bệnh Viện B thể hiện: thương tích trán dài khoảng 04cm; 02 vết thương mặt sau cẳng tay trái khoảng 01cm; sưng nề cẳng tay trái; hạn chế vận động vai trái; đau vùng khung chậu, bụng; gãy hở độ I xương trụ tay trái; theo dõi chấn thương sọ não kín, bụng kín.

Tại kết luận giám định số 689 ngày 09/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của anh Lò Văn H gồm: vết thương nằm chéo vùng trán trái, đã khâu phục hồi, bờ mép nham nhở, dài 4,5cm; chấn thương cẳng tay trái, gãy 1/3 dưới xương trụ tay trái đã được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít; vết mổ nằm dọc mặt sau cẳng tay trái dài 10cm; vết hằn mặt sau vai trái kích thước (8x2)cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể hiện tại là 12% (mười hai phần trăm). Các tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Các tổn thương của anh Lò Văn H là tổn thương thông thường. Đề nghị ổn định giám định bổ sung.

Tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 781 ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lò Văn H hiện tại là 12% (mười hai phần trăm).

Tại kết luận giám định số 7322 ngày 20/10/2023 của V2 Bộ C1 kết luận: 01 chiếc gậy ba khúc bằng kim loại, khi rút dài 65cm gửi giám định là dùi cui kim loại, thuộc công cụ hỗ trợ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hải S đã khai nhận hành vi dùng gậy rút ba khúc đánh gây thương tích cho anh Lò Văn H như nêu trên. Về lý do đánh anh H, S khai: khi thấy chị T3 say rượu, S bảo chị T3 về nhưng chị T3 không đồng ý; anh H không bảo chị T3 về mà còn nói ý bênh vực cho chị T3. Chiếc gậy ba khúc trên S mua qua mạng xã hội Facebook từ năm 2021, mục đích để phòng thân. Sau khi gây án, S đã vứt gậy ba khúc ở hiện trường. Quá trình điều tra, S đã tác động gia đình bồi thường cho anh H số tiền 30.000.000 đồng. Ngoài ra, S khai vào khoảng 22 giờ ngày 05/9/2023, S có đến quán bar tại bờ biển B để uống bia. Tại đây, S có đi mời bia các bàn xung quanh, thì được 01 người nam thanh niên (không rõ lai lịch) mời sử dụng ma túy nên S đã sử dụng.

Anh Lò Văn H khai phù hợp nội dung vụ án như nêu trên. Tại quán ăn, S yêu cầu chị T3 đi về nhưng chị T3 không đồng ý. Sau đó, S chửi anh vì rủ chị T3 đi chơi; anh H trả lời: chị T3 không về chứ không phải anh rủ chị đi chơi, nên giữa S và anh H xảy ra mâu thuẫn. Anh H khẳng định chỉ có một mình bị cáo S là người gây thương tích cho anh. Anh H đã được gia đình S đến bồi thường 30.000.000 đồng,

5

anh H yêu cầu S phải bồi thường tiếp số tiền 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường thiệt hại như trong quá trình điều tra.

Người làm chứng - anh Lê Đình T1, anh Lò Văn T2, chị Lò Thị T3 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và phù hợp với nội dung vụ án như trên. Ngoài ra, anh T1, anh T2 còn khai: khi S đánh anh H thì hai người đàn ông đi cùng S đã vào can ngăn sự việc. Khi anh T1, T2H lên xe taxi để đi về thì S tiếp tục mở cửa xe, túm tóc, kéo anh H xuống xe đánh gây thương tích. Do hoảng sợ nên anh T1T2 đã bỏ chạy ra xa khoảng 20m, khi quay lại chứng kiến S tiếp tục dùng gậy ba khúc đánh anh H. Hai người đàn ông đi cùng S không tham gia đánh anh H mà chỉ can ngăn S không đánh anh H nữa.

Người làm chứng - anh Nguyễn Đình N1 và anh Nguyễn Tuấn T có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc rạng sáng ngày 08/9/2023, các anh và bị cáo có đến quán “Bích V1” để ăn sáng và uống bia. Sau đó anh N1 và anh T về trước nên không biết sự việc xảy ra như thế nào.

Người làm chứng là anh Nguyễn Khắc N có lời khai: anh là người cùng thôn với bị cáo. Ngày 04/9/2023, bị cáo S có từ huyện C đến thành phố H chơi và ở tại phòng trọ của anh. Anh N không biết S có chiếc gậy ba khúc cất trong phòng anh. Vào sáng ngày 08/9/2023, anh đang ngủ thì thấy tiếng ồn nên ra xem thì thấy S đánh anh H, anh vào can S đánh anh H.

Người làm chứng chị Lê Thị V có lời khai: chị có thấy sự việc cãi nhau giữa hai nhóm khách trước cửa quán. Chị không ra xem nên không biết cụ thể việc xảy ra như thế nào.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKSHL ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Hải S về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải S từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 19 Nghị định 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ: tịch thu 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, có chiều dài lớn nhất khi rút ra hết là 65cm, chiều dài khi rút gọn là 24cm, có cán bọc bằng cao su màu đen dài 23cm, đường kính từ 1,5-2,5cm giao Công an thành phố H xử lý theo quy định.

6

Về bồi thường dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Hải S phải bồi thường cho anh H số tiền 30.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo S nhận thức được hành vi của mình trong lúc nóng giận đã vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn hối hận vì đã gây thương tích cho anh H, đồng thời mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình, thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo và anh H là phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc S gây thương tích cho anh H. Hậu quả anh H bị thương vùng trán trái; cẳng tay trái, gãy 1/3 dưới xương trụ tay trái; vai trái là do S dùng gậy kim loại gây nên. Điều này phù hợp với hồ sơ bệnh án của Bệnh viện B; Bản kết luận giám định số 689 ngày 09/9/2023 và Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 781 ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với anh H.

Hành vi phạm tội của bị cáo S còn được chứng minh bởi lời khai của người làm chứng anh Lò Văn T2, anh Lê Đình T1, chị Lò Thị T3 là những người đã chứng kiến sự việc diễn ra. Anh T1, anh T2 chính là người can ngăn S không đánh anh H nữa, chị T3 là người nhặt chiếc gậy sắt và giao nộp cho cơ quan điều tra.

Nguyên nhân dẫn đến sự việc theo S khai là do S thấy chị T3 say rượu, S bảo chị T3 về nhưng chị T3 không đồng ý; anh H không bảo chị T3 về mà còn nói ý bênh vực cho chị T3. Anh H xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do S nghĩ anh rủ chị T3 đi chơi nhưng thực tế anh không rủ chị T3 đi chơi.

Đánh giá các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các chứng cứ tài liệu đã được cơ quan điều tra xác minh, thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ..., thấy có đủ căn cứ kết luận: vào hồi 06 giờ 13 phút ngày 08/9/2023, tại khu vực vỉa hè trước cửa quán “Bích Việt” của chị Lê Thị V thuộc tổ H, khu H, phường H, thành phố H, do

7

mâu thuẫn trong sinh hoạt, Nguyễn Hải S đã có hành vi dùng chân phải đạp vào bụng; tay phải cầm 01 chiếc dùi cui bằng kim loại đánh anh Lò Văn H 04 nhát vào cẳng tay trái, vai trái và vào trán trái gây thương tích, tổn hại 12% (mười hai phần trăm) cơ thể.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hải S đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự (dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Xuất phát từ ý nghĩ chủ quan của bị cáo dẫn đến mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị hại mà bị cáo đã dùng chiếc gậy sắt là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh H. Điều đó đã thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong vụ việc này, khi xảy ra cãi nhau với anh H, lẽ ra bị cáo có thể dừng lại để giải quyết mâu thuẫn bằng thái độ ôn hòa giữa hai bên, nhưng bị cáo lại về chỗ ở cầm gậy sắt ra đánh anh H. Anh H đã bỏ chạy, bị cáo tiếp tục đuổi theo đánh. Khi được mọi người can ngăn, anh H lên xe taxi để bỏ đi nhưng bị cáo túm cổ áo kéo anh H ra nhưng không được, anh H đóng được cửa xe taxi, lái xe điều khiển cho xe sang bên kia đường bị cáo không dừng lại, còn chạy sang đường, chặn đầu xe, mở cửa xe kéo anh H xuống và dùng gậy sắt tiếp tục đánh anh H. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện đầu thú; đã tự nguyện bồi thường được một nửa thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa thỏa thuận với bị hại tiếp tục bồi thường số tiền thiệt hại còn lại, khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

[6] Về hình phạt: mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hải S.

8

[7] Về việc bồi thường thiệt hại: quá trình điều tra, bị hại Lò Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường 60.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh H 30.000.000 đồng, anh H yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận: bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại với số tiền 30.000.000 đồng; xét thấy, việc thoả thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về vật chứng: 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến nội dung vụ án, 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Nguyễn Hải S mô tả hành vi gây thương tích cho anh H đã được niêm phong theo quy định của pháp luật, nay tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu đen bị cáo dùng để đánh anh H, là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và được xác định là công cụ hỗ trợ (được quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ). Do đó, căn cứ Điều 19 Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ, cần tịch thu giao cho Công an thành phố H xử lý theo thẩm quyền.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (đối với số tiền 30.000.000 đồng mà bị cáo đồng ý bồi thường cho anh H) theo quy định của pháp luật. Do bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và có đề nghị xin miễn án phí, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với anh Lò Văn H.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.

[11] Các vấn đề khác: đối với việc Nguyễn Hải S tàng trữ 01 chiếc dùi cui kim loại, thuộc công cụ hỗ trợ, S chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này và việc sử dụng ma túy trái phép vào ngày 05/9/2023, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ sang Công an thành phố H để xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 07/02/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hải S về hành vi trên.

Đối với 01 nam thanh niên mời S sử dụng ma túy vào ngày 05/9/2023, do không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

9

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải S 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 19 Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ: Tịch thu giao cho Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xử lý theo thẩm quyền 01 chiếc gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, có chiều dài lớn nhất khi rút ra hết là khoảng 65cm, chiều dài khi rút gọn là khoảng 24cm, có cán bọc bằng cao su màu đen dài khoảng 23cm, đường kính từ khoảng 1,5-2,5cm, đã qua sử dụng.

(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 138/BB-THA ngày 27/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 3, Điều 351, Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao: công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa, buộc bị cáo Nguyễn Hải S phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Lò Văn H số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các khoản 1 và 3 Điều 21, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hải S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị hại anh Lò Văn H được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Hải S, bị hại Lò Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

10

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long,
  • Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố
  • Hạ Long; Công an thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 107/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải S - cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger