Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-PT

Ngày: 25-10-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Huỳnh Văn Út

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Quách Lý Hoàng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Công K do có kháng cáo của bị cáo và của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo kháng cáo và bị kháng cáo:

Trần Công K, sinh năm 1990 tại Cà Mau; nơi thường trú: Số F, L, khóm G, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G và bà Trịnh Kim N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Ông Đoàn Hoài T (tên gọi khác là B), sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi cư trú: Số A, khóm C, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/02/2024, Đoàn Hoài T chở Bùi Thị Phương L đến nhà của Nguyễn Thanh H ở khóm B, phường T, thành phố C để đòi nợ do vợ chồng Dương Minh T1 và Trần Thị Thùy T2 thiếu. Lúc này L và T2 xảy ra cự cãi, nên L lấy hộp gỗ dùng để đựng giấy ném xuống nền gạch làm hộp giấy bị bể. T2 dùng điện thoại di động hiệu Sam Sung A12 quay lại hình ảnh. Từ đó L lấy điện thoại di động này của T2 ném xuống nền gạch. Liêu và T2 đánh nhau được Trịnh Kim N (mẹ ruột T2) can ngăn. T nhào tới dùng tay đánh H té xuống đống củi, nên H chụp lấy khúc cây trong đống củi đánh T nhưng không trúng. T lấy khúc cây trong đống củi đánh vào người Hùng, Trần Công K chụp lấy khúc cây của T và dùng khúc cây này đánh trúng vào đầu T nhiều cái gây thương tích. T đến Bệnh viện Đ khám và điều trị vết thương.

Sự việc đánh nhau được Công an phường T, thành phố C đến hiện trường lập biên bản, thu giữ một điện thoại di động hiệu Sam Sung A12 màu xanh dương, một đồng hồ đeo tay loại đồng hồ điện tử thông minh màu xanh, một chiếc dép bằng mủ đế màu đen quai ngang màu trắng có hoa văn, một cây kẹp tóc bằng mũ màu đen có nhiều hột đá, ba mảnh vỡ của hộp đựng giấy bằng gỗ. Ngày 25/3/2024 Công an phường T tạm giữ của T một cái quần Jean nam dài màu xanh.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án. Qua thực nghiệm điều tra đã tạm giữ một khúc cây bằng gỗ dài 44 cm, ngang 05 cm, có 03 cạnh, trọng lượng 300 gam đặc điểm tương tự với khúc cây K dùng để đánh gây thương tích cho T và một cây búa cán bằng kim loại, đầu búa hình chữ nhật kích thước 4cm x 3cm, chiều dài lưỡi búa dài 10cm. Đối với điện thoại di động hiệu Sam Sung A12 qua kiểm tra bị hư màn hình, qua khảo sát màn hình trị giá 400.000 đồng. Đối với đồng hồ đeo tay của T trong lúc đánh nhau làm rơi tại hiện trường, qua kiểm tra đồng hồ trên không bị hư hỏng gì. Ngày 21/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho T2 một điện thoại di động hiệu S và trả lại cho T một đồng hồ đeo tay.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 64 ngày 27/10/2023 của Bệnh viện Đ xác định thương tích của Đoàn Hoài T như sau: Vết thương đỉnh khoảng 02 cm, vết thương đùi trái khoảng 02 cm.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 79 ngày 08/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận thương tích của Đoàn Hoài T như sau:

  • - 01 vết sẹo vùng đỉnh chẩm, kích thước 1,3 cm x 0,2 cm, tỷ lệ 01%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;
  • - 01 vết sẹo 1/3 giữa mặt ngoài đùi trái, kích thước 1,8 x 0,3 cm, tỷ lệ 01%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
  • - 01 vết sẹo vùng trán phải (trong chân tóc), kích thước 1,7 x 0,1 cm (Bệnh án không ghi nhận). Không xếp tỷ lệ %. Tổng tỷ lệ thương tích là 02%.

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 107 ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận thương tích của Đoàn Hoài T như sau: 01 vết sẹo vùng trán phải (trong chân tóc), kích thước 1,7 x 0,1 cm, tỷ lệ 01%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

Đối với thương tích ở đùi trái của Đoàn Hoài T thì T khai nhận do K dùng búa chém gây thương tích. Qua điều tra chưa xác định thương tích này do ai gây nên và dùng vật gì gây thương tích này.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân thành phố Cà Mau đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo K 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 3.800.000 đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11/9/2024, bị hại kháng cáo yêu cầu giám định lại và tăng hình phạt đối với bị cáo.

Ngày 18/9/2024, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần hình phạt đối với bị cáo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo; Đối với kháng cáo của ông T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Công K khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 19/02/2024 tại nhà ở thuộc khóm B, phường T, thành phố C, bị cáo đã dùng khúc cây (loại cây củi đốt lò dùng để nấu ăn) đánh trúng vào đầu của ông Đoàn Hoài T gây thương tích ở vùng đỉnh chẩm và vùng trán phải. Theo kết luận giám định và giám định bổ sung của Trung tâm pháp y tỉnh C xác định tỷ lệ thương tích của ông T là 02%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

[2] Ngược lại, phía bị hại ông T cho rằng bị cáo dùng cây búa cán bằng kim loại dài 66cm, có gắn lưỡi búa chém gây thương tích cho ông ở vùng đầu tỷ lệ 2% và một vết sẹo ở đùi trái tỷ lệ 01%.

[3] Lời khai của bị cáo dùng cây gây thương tích cho bị hại là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Thanh H và ông Dương Minh T1, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với Kết luận giám định thương tích số 64 ngày 07/10/2023 và Kết luận thương tích bổ sung số 107 ngày 14/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C xác định thương tích vùng đầu của bị hại là 02% do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tại lời khai (bút lục 179-182) và tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại thống nhất với hai kết luận giám định, thừa nhận vết thương vùng đầu là do vật tày gây ra là đúng. Quá trình điều tra không xác định được người nào gây ra thương tích ở đùi trái của bị hại. Bị hại xác định thương tích này do búa gây ra là phù hợp với kết luận giám định xác định do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra, trong khi bị cáo chỉ dùng cây khúc cây là vật tày gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, không có cơ sở xác định bị cáo là người gây thương tích ở đùi trái cho bị hại. Do đó, việc bị hại yêu cầu được giám định lại thương tích là không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Với các tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã xét xử bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, việc bị cáo dùng khúc cây gỗ là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thương tích thuộc điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, nhưng cấp sơ thẩm chỉ xác định bị cáo phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật là có thiếu xót cần được điều chỉnh lại cho phù hợp.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo gây thương tích cho người khác trái pháp luật vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo và của bị hại về phần hình phạt:

Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo gây thương tích cho bị hại 02%. Thương tích này chỉ ở mức khởi điểm tại khoản 1 của điều luật, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Từ đó, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do là lao động chính trong gia đình nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; ngược lại phía bị hại ông T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo nhưng cũng không cung cấp được tình tiết tăng nặng mới, nên kháng cáo của bị cáo và của bị hại không được chấp nhận.

[4] Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau được chấp nhận.

[5] Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo và bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công K và kháng cáo của bị hại Đoàn Hoài T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần hình phạt.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Công K 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Bị cáo và ông T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/người án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Công an thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Trọng Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 107/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger