TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/10/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Nông.
Ông Nguyễn Trọng Thúy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh T - kiểm sát viên.
Ngày 25/10/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/8/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2023/DSST-QĐ ngày 09/10/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: chị Hà Thị H, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Bản X, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: anh Vũ Như M, sinh 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu phố X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: chị và anh Vũ Như M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 24/10/2011 tại UBND xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên thường hay xích mích, cãi cọ lẫn nhau, khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Sau đó, từ năm 2017 anh M đi Hàn Quốc làm ăn đến nay chưa về, không quan tâm gì đến mẹ con chị nữa. Từ khi đi Hàn Quốc, anh M không còn quan tâm đến vợ con, vợ chồng không còn tình cảm đối với nhau và đã sống ly thân nhau. Hiện nay anh M đang sống và làm ăn bên Hàn Quốc chưa về nước, nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể của anh M bên Hàn Quốc. Vì thời gian chờ đợi đã lâu, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.
- Về con chung: chị và anh M có 01 con chung là cháu Vũ Hà Bảo T1 - sinh ngày 21/9/2017, hiện nay cháu T1 đang ở với chị. Nguyện vọng của chị khi ly hôn là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H. Chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Hà Thị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vũ Như M có hộ khẩu thường trú tại Khu phố X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng hiện nay anh M đã xuất cảnh, chưa nhập cảnh về nước. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 10/8/2023, Cục Q - Bộ C có văn bản số 20812/QLXNC-P5 trả lời Công văn số 86, 69, 70, 71/CV-TA ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: anh Vũ Như M, sinh ngày 25/02/1989 đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 16/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Tòa án đã tiến hành xác minh, yêu cầu bà Trần Thị T2 là mẹ đẻ anh Vũ Như M cung cấp địa chỉ của anh M và thông báo cho anh M biết về việc chị H có đơn xin ly hôn đối với anh. Bà T2 đã thông tin cho anh M biết về việc chị H xin ly hôn, nhưng anh M không gửi văn bản ý kiến để Tòa án xem xét và không cung cấp địa chỉ cụ thể cho bà T2 để bà cung cấp cho Tòa án. Anh M không cung cấp địa chỉ, chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật đối với anh M; chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh M, chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: chị Hà Thị H và anh Vũ Như M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, ngày 24/10/2011 được UBND xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Sau đó, anh M đi Hàn Quốc làm ăn, không liên lạc gì với vợ con nên tình cảm vợ chồng không còn. Qua đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M không có sự vun đắp từ hai phía, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Anh M đến nay vẫn chưa về nước, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm dần phai nhạt. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn anh M.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M xảy ra đã lâu, mức độ đã trầm trọng, đã sống ly thân nhau nên thực tế tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh M là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: chị Hà Thị H và anh Vũ Như M có 01 con chung là cháu Vũ Hà Bảo T1 - sinh ngày 21/9/2017, hiện nay cháu T1 đang ở với chị H. Nguyện vọng của chị H khi ly hôn là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Xét thấy, cháu Vũ Hà Bảo T1 là con chung của chị H và anh M, cháu T1 chưa đủ tuổi thành niên nên cần phải giao cho bố hoặc mẹ cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, anh M không có ý kiến gì gửi Tòa án, chị H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu T1 hiện nay đang ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Vũ Hà Bảo T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, nên chấp nhận.
Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H.
- Về hôn nhân: chị Hà Thị H được ly hôn anh Vũ Như M.
- Về con chung: chị Hà Thị H và anh Vũ Như M có 01 con chung là cháu Vũ Hà Bảo T1 - sinh ngày 21/9/2017. Giao cháu Vũ Hà Bảo T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: chị Hà Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị Hà Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0006616 ngày 18/8/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 107/2023/HNGĐ-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 107/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị Huyên khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Vũ Như Minh.
