|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Kim Duyên.
- Bà Đinh Thị Kim Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng – Thư ký Tòa án,
Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trưởng Bảo Vy - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “ Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1996 (Xin vắng mặt);
- Địa chỉ: ấp L, xã B thành phố G, tỉnh Tiền Giang;
- - Bị đơn: Anh Phạm Thành L, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
- Địa chỉ: ấp C, xã B thành phố G, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh L tự tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và chung sống với nhau từ tháng 6 năm 2014. Có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, thị xã G (Nay là thành phố G) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2014 ngày 13/6/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy cãi nhau, bất đồng quan điểm sống chị và anh L đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau, nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thành L.
- - Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 24/10/2020 và Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/3/2014. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có..
* Bị đơn anh Phạm Thành L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L không đến dự phiên tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị T xin ly hôn với anh. Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị T; Về hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh L; Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 24/10/2020 và Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/3/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí đương sự chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Ngọc T có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Phạm Thành L có địa chỉ: ấp C, xã B thành phố G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
[1.1] Chị Bùi Thị Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh L.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc T và anh Phạm Thành L kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2014 ngày 13/6/2014 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị T trình bày, nguyên nhân do quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy cãi nhau, bất đồng quan điểm sống và chị và anh L đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh L để hòa giải tạo điều kiện để anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh L không đến để trình bày ý kiến về việc chị T xin ly hôn, chứng tỏ anh L không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh chị. Mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 24/10/2020 và Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/3/2014. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy qua xác minh tại chính quyền địa phương cho biết thì cháu Đ và cháu N đang sống với mẹ là chị T và chị T có thu nhập ổn định. Mặc khác khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp 02 con chung. Để đảm bảo cuộc sống của cháu không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến môi trường sống của cháu nên căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 24/10/2020 và Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/3/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc T là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc T .
- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc T được ly hôn với anh Phạm Thành L.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 24/10/2020 và Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/3/2014 cho chị Bùi Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Bùi Thị Ngọc T không yêu cầu anh Phạm Thành L cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000699 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công (Nay là thành phố G). Như vậy, chị Bùi Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Ngọc T và anh Phạm Thành L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thúy |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
