|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan
2. Bà Nguyễn Thị Bích Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn H - Sinh ngày 26 tháng 11 năm 1973, tại Thái Nguyên. Hộ khẩu thường trú: Xóm V, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Không; Con ông Ngô Văn P và bà Trần Thị M; Vợ: Nguyễn Thị P1 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Tại bản án số 112/HSST ngày 23/5/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí 200.000 đồng. Ra trại ngày 18/5/2023.
- Nhân thân:
- + Tại bản án số 173/HSPT ngày 15/9/1995, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân”, án phí: 100.000 đồng. Bồi thường cho anh Trần Bảo T1 ở P, thành phố T là 700.000 đồng. Đã nộp án phí ngày 21/12/1995. Anh T2 không có đơn yêu cầu H bồi thường khoản tiền trên.
- + Tại bản án số 37/HSST ngày 13/11/1996, Toà án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân”, án phí HSST: 50.000 đồng, án phí DSST: 100.000 đồng, bồi thường cho chị Đinh Thị O ở xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn 2.000.000 đồng. Chị O có đơn yêu cầu H bồi thường khoản tiền trên nhưng ngày 21/9/2006, Cơ quan THADS huyện Đ đã ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án do H không có điều kiện thi hành án. Đến nay, chị O không yêu cầu H bồi thường số tiền trên. Xác minh ngày 23/02/2022 tại Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên: Không tìm thấy hồ sơ thi hành án chủ động về khoản tiền án phí trên.
- + Tại bản án số 113/HSST ngày 24/12/1996, Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt của 02 tội là 21 tháng tù, án phí HSST: 50.000 đồng. Xác minh ngày 09/3/2022 tại Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên: Không tìm thấy hồ sơ thi hành án chủ động về khoản tiền án phí trên. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2000.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
- Người chứng kiến: Anh Lê Đức K, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm V, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tổ công tác Công an xã C, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường bê tông dân sinh lối rẽ vào nhà văn hóa xóm V, xã C, thành phố T thì phát hiện 01 người đàn ông đang ngồi trên 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen dừng đỗ trên đường. Cách đó khoảng 05 mét tổ công tác phát hiện 01 người đàn ông đi bộ về phía người đàn ông đang ngồi trên xe mô tô có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người đàn ông ngồi trên xe mô tô đã chạy thoát. Người đàn ông đi bộ dùng tay lấy ra từ túi quần bên phải đang mặc 01 túi nilon màu trắng kích thước 11,5 x 7cm dạng túi zip vứt xuống đất cạnh vị trí người đàn ông này đang đứng và định bỏ chạy. Tổ công tác đã khống chế được và yêu cầu kiểm tra, mời người chứng kiến. Qua kiểm tra người đàn ông này khai nhận họ tên là Ngô Văn H. Kiểm tra gói nilon H vừa ném xuống đường bên trong có 05 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. H khai nhận đó ma túy Heroine của H để bán kiếm lời. Tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, IMEI1: 357516640701987, IMEI2: 358193140701989.
Cùng ngày, tiến hành cân số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ được của Ngô Văn H có khối lượng là 0,411gam và lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong gửi giám định ký hiệu H1
Tại Kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu H gửi giám định là chất ma túy, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng là: 0,411 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn H khai nhận: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, H đi nhờ xe mô tô của người đi đường ra khu vực cầu G, thuộc phường Đ, thành phố T tìm và mua ma túy Heroine để bán kiếm lời. Tại đây, H gặp và mua được của người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroine gói ngoài bằng giấy nilon màu đen với giá 300.000 đồng. H mang gói ma túy trên về nhà tự chia nhỏ và đóng gói được 05 gói nhỏ ma túy Heroine gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng rồi cho vào 01 túi nilon dạng túi zip kích thước 11,5 x 7 cm màu trắng. Khoảng 09 giờ 55 phút ngày 05/01/2024, khi H đang ở nhà tại xóm V, xã C, thành phố T thì nhận được điện thoại của 01 người đàn ông tên là H2 (C) không rõ nhân thân, lai lịch. C bảo H bán cho 01 gói Heroine giá 100.000 đồng. H hẹn gặp C ở đoạn đường bê tông là đường liên xóm, lối rẽ vào nhà văn hóa xóm V, xã C, thành phố T. Tại đây, H chưa kịp bán ma túy cho C thì bị tổ công tác công an xã C, T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Ngô Văn H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
- - 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa vỏ bao mẫu niêm phong ban đầu.
- - 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, IMEI1: 357516640701987, IMEI2: 358193140701989.
Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSTPTN, ngày 02/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05-07 triệu đồng.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy, vỏ bao gói mẫu do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tại xóm V, xã C, thành phố T, Ngô Văn H đang tàng trữ trái phép 0,411 gam chất ma túy, loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Công an xã C, T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, mua bán và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 03 lần bị xét xử về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân, Cướp tài sản công dân, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần có bản án nghiêm khắc với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Vật chứng vụ án:
- Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong ký hiệu H, H1 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng. Quá trình điều tra, tại phiên tòa xác định bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ theo Ngô Văn H khai nhận mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực cầu G, thuộc phường Đ, thành phố T ngày 05/01/2023 để bán cho người đàn ông tên H2 (C) không rõ lai lịch địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo 05 triệu đồng sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa 0,369 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có 02 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T và chữ ký của Trương Đăng T3 và Ma Nhật A.
- + 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa vỏ bao mẫu ban đầu, mặt sau bì có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T và chữ ký của Thái Thị Hải Y, Ma Nhật A, Ngô Văn H, Lê Đức K, Nguyễn Văn T4, Lê Tuấn A1.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, Imei 1: 357516640701987; Imei 2: 358193140701989, mặt sau có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T và chữ ký của Bàng Văn T5, Ma Nhật A, Ngô Văn H và Nguyễn Thị Hương T.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 145 ngày 22/4/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục THADS thành phố T).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quỳnh |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
