Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 107/2024/HS-PT

Ngày: 24/9/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Ông Trần Quốc Cường.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T. Do có kháng cáo của các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Đinh Hữu H, tên gọi khác: không; sinh ngày: 15 tháng 5 năm 1961, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 5/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Hữu K1 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị T1 (Đã chết); vợ: Đậu Thị K2; con: có 04 con (Con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
  2. Nguyễn Công N, tên gọi khác: không; sinh ngày 27 tháng 4 năm 1963, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 4/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công Đ (đã chết); con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); vợ: Đậu Thị Đ1; con: có 04 người con (con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm: 1990); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam – Có mặt.
  3. Dương Thành B, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1965, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Thành T2; con bà: Nguyễn Thị H2; vợ: Nguyễn Thị L1; con: có 05 người con (Con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
  4. Đặng Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 15 tháng 8 năm 1970, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 4/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn T3 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị P (Đã chết); vợ: Nguyễn Thị C1; con: có 05 người con (Con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
  5. Nguyễn Hồng K, tên gọi khác: không; sinh ngày: 20 tháng 4 năm 1976, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L2 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị T4; vợ: Nguyễn Thị H2; con: có 04 người con (Con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
  6. Đậu Thành C, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01 tháng 10 năm 1959, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 6/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đậu Thành Đ2; con bà: Nguyễn Thị L3; vợ: Nguyễn Thị K3; con: có 5 người con (Con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hồng K, Nguyễn Công N, Đinh Văn H3, Đặng Văn T, Dương Thành B, Đậu Thành C: Ông Nguyễn Trung T5 – Luật sư thuộc Văn phòng L9 – Đoàn Luật sư tỉnh N – Có mặt.

Bị cáo không kháng cáo: Đặng Văn Đ3, sinh năm 1979

Nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An - Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn H1 và bà Đậu Thị N1, sinh năm: 1969; trú tại: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. UBND huyện H, tỉnh Nghệ An.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Phạm H4 - Chủ tịch UBND huyện H. Địa chỉ trụ sở: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

    Người đại diện ủy quyền: Ông Phạm Ngọc C2 - Trưởng phòng Tài nguyên – Môi trường huyện H – Vắng mặt.

  3. UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Anh N2 - Chủ tịch UBND xã H. Địa chỉ trụ sở: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

    Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Kim Đ4 – Phó chủ tịch UBND xã H – Vắng mặt.

  5. Chị Phan Thị P1; sinh năm 1987 – (Kế toán xã H, huyện H). Địa chỉ trụ sở: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  6. Chị Trần Thị V; sinh năm 1992 – (Thủ quỹ năm 2017 của xã H); Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  7. Anh Nguyễn Văn H5; sinh năm 1961 – (Làm thuỷ lợi, xã H năm 2016); địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  8. Anh Đậu Thành C3; sinh năm: 1977; trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  9. Anh Trần Văn C4; sinh năm: 1969; trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Có mặt.
  10. Anh Nguyễn Công T6; sinh năm: 1978 – Có mặt và chị Nguyễn Thị H6; sinh năm: 1978 – Vắng mặt; trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  11. Anh Lê Đình T7; sinh năm: 1979 và chị Nguyễn Thị B1; sinh năm: 1985. Đều trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  12. Ông Nguyễn Hữu H7; sinh năm: 1963. Trú tại: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  13. Anh Dương Thành M; sinh năm: 1978 – Có mặt và chị Đậu Thị T8; sinh năm: 1983 – Vắng mặt; đều trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
  14. Anh Nguyễn Đình H8; sinh năm: 1976 và chị Nguyễn Thị T9; sinh năm: 1983. Đều trú tại: Xóm F - xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  15. Chị Nguyễn Thị B2; sinh năm: 1987. Trú tại: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  16. Ông Hoàng Kim T10; sinh năm: 1959. Trú tại: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  17. Ông Lê Đình T11; sinh năm 1961. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  18. Chị Trần Thị N3; sinh năm 1988. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  19. Chị Trần Thị T12; sinh năm 1978. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  20. Chị Đinh Thị H9; sinh năm 1992. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  21. Anh Nguyễn Văn X; sinh năm 1986. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  22. Chị Đinh Thị H10; sinh năm 1989. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  23. Ông Trần Văn H11; sinh năm 1961. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  24. Chị Lê Thị Đ5; sinh năm 1975. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  25. Ông Trần Văn M1; sinh năm 1952. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  26. Ông Nguyễn Văn T13; sinh năm 1953. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  27. Chị Nguyễn Thị H12; sinh năm 1992. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  28. Chị Đậu Thị H13; sinh năm 1984. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  29. Chị Dương Thị T14; sinh năm 1985. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  30. Ông Nguyễn Công T15; sinh năm 1949. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  31. Anh Nguyễn Công Q; sinh năm 1974. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  32. Bà Nguyễn Thị V1; sinh năm 1961. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  33. Chị Nguyễn Thị T9; sinh năm 1983. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  34. Anh Đậu Văn K4; sinh năm 1979. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  35. Chị Đặng Thị Hồng D; sinh năm 1988. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  36. Anh Phạm Ngọc P2; sinh năm 1978. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  37. Ông Đinh Hữu P3; sinh năm 1952. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  38. Anh Nguyễn Công H14; sinh năm 1986. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  39. Chị Phạm Thị H15; sinh năm 1982. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  40. Chị Nguyễn Thị B1; sinh năm 1985. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  41. Anh Nguyễn Hữu T16; sinh năm 1975. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  42. Chị Nguyễn Thị T17; sinh năm 1981. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  43. Anh Phạm Xuân Đ6; sinh năm 1982. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  44. Anh Dương Thành T18; sinh năm 1985. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Có mặt.
  45. Chị Nguyễn Thị Ánh T19; sinh năm 1983. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  46. Chị Nguyễn Thị T20; sinh năm 1990.Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  47. Anh Nguyễn Công H16; sinh năm 1976. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  48. Chị Nguyễn Thị T21; sinh năm 1981. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  49. Anh Nguyễn Văn L4; sinh năm 1971. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  50. Bà Nguyễn Thị N4; sinh năm 1964. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  51. Ông Đậu Văn C5; sinh năm 1956. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  52. Bà Nguyễn Thị S; sinh năm 19598. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  53. Ông Phạm Trọng C6; sinh năm 1957. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  54. Bà Đậu Thị K2; sinh năm 1962. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  55. Ông Nguyễn Văn P4; Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  56. Ông Trần Văn T22; sinh năm 1950. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  57. Bà Nguyễn Thị T23; sinh năm 1963. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  58. Bà Đậu Thị N1; sinh năm 1969. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  59. Ông Nguyễn Hữu T24; sinh năm 1960. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  60. Anh Đậu Văn Đ7; sinh năm 1986. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  61. Chị Hồ Thị H17; sinh năm 1993. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  62. Anh Nguyễn Hữu L5; sinh năm 1976. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  63. Ông Nguyễn Công T25; sinh năm 1957. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  64. Ông Lê Đình H18; sinh năm 1954. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  65. Ông Nguyễn Công T26; sinh năm 1947. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  66. Anh Đậu Xuân H19; sinh năm 1970. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  67. Ông Nguyễn Hữu S1; sinh năm 1959. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  68. Bà Đinh Thị T27; sinh năm 1940. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  69. Anh Nguyễn Văn H20; sinh năm 1978. Trú tai: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  70. Anh Nguyễn Hữu N5; sinh năm 1985; Trú tại: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đinh Chí L6; sinh năm 1981. Trú tại: Xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Duy V2; sinh năm 1981. Trú tại: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  3. Anh Phạm Văn T28; sinh năm 1982. Trú tại: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Công Q . Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn T29; sinh năm 1960. Trú tại: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.
  6. Ông Phạm Sỹ T30; sinh năm 1966. Trú tại: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 về "Đẩy mạnh vận động người dân Dồn điền đổi thửa" và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong Nông nghiệp (Chỉ thị số 08/2012); Ban T32 ban hành Chỉ thị số 17- CT/HU ngày 22/10/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong vận động nhân dân thực hiện Dồn điền đổi thửa, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất qui mô lớn trong nông nghiệp, đồng thời Ủy ban nhân dân tỉnh N, Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Nghệ An đã ban hành các Kế hoạch, Hướng dẫn tổ chức thực hiện cuộc vận động nông dân Dồn điền đổi thửa (DĐĐT) đất nông nghiệp theo chỉ thị số 08/2012.

Năm 2016, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 08/2012, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An đã tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác dồn điền đổi thửa tại xã H. Ngày 07/11/2016, UBND xã H, huyện H ban hành Quyết định số 55a/QĐ-UBND về việc kiện toàn tiểu ban chỉ đạo xóm thực hiện “Dồn điền đổi thửa” trên địa bàn xã H, trong đó Đinh Hữu H (là xóm trưởng xóm I nhiệm kỳ 2015-2018 theo Quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử xóm trưởng xóm 9 số 77/QĐ-UBND ngày 01/9/2015 của Chủ tịch UBND xã H) được chỉ định làm Trưởng tiểu ban chỉ đạo Dồn điền đổi thửa xóm 9 (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi đi tiếp thu chủ trương Dồn điền đổi thửa từ Đảng ủy, UBND xã H, huyện H vào ngày 13/11/2016, tại nhà Văn hóa xóm I (nay là xóm F), Đinh Hữu H đã tổ chức họp dân, phổ biến, quán triệt, triển khai chủ trương DĐĐT. Tại cuộc họp dân này, do không thống nhất được việc nhân dân đóng góp kinh phí để thực hiện công tác dồn điền đổi thửa nên Đinh Hữu H đã đưa ra ý kiến bán và cho thầu một số mảnh đất để lấy tiền phục vụ công tác dồn điền đổi thửa thì nhân dân đồng tình. Đến 19 giờ ngày 14/11/2016, Đinh Hữu H tiếp tục tổ chức họp dân tại nhà H để bàn bạc, thống nhất trong nhân dân xóm I (nay xóm F) về phương án dồn điền đổi thửa theo đề án của Ủy ban nhân dân xã H đã được phê duyệt. Tham dự cuộc họp này có ông Hoàng Kim T10 (nguyên Bí thư Đảng ủy xã H), ông Phan Bùi H21 (nguyên Phó Chủ tịch UBND xã H), bà Nguyễn Thị B2 (nguyên Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã H), ông Hoàng Kim S2 (Bí thư Chi bộ phụ trách xóm). Tại cuộc họp, tất cả người dân xóm I (nay xóm F) đều thống nhất phương án là “nhập chung toàn bộ diện tích đất nông nghiệp hiện có của các hộ dân lại, tiểu ban DĐĐT xóm 9 tiến hành đo đạc tổng toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của các hộ dân xóm I, quy hoạch đường nội đồng, hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng, rồi tiến hành bình hạng đất và phân theo các loại đất A,B,C, sau đó làm thăm để nhân dân tiến hành bốc thăm, nếu hộ dân nào bốc thăm trúng hạng đất loại A (tương ứng với diện tích 600m²/1 khẩu) hoặc B (tương ứng với diện tích 700m²/1 khẩu) hoặc C (tương ứng 800 đến 900m²/1 khẩu), tại các xứ đồng nào thì tiểu ban sẽ cùng với hộ gia đình đó tiến hành đo đạc và giao đất thực địa cho các hộ dân tại xứ đồng đó theo đúng hạn mức được nhận”, đồng thời bầu ra Tiểu ban chỉ đạo xóm I để thực hiện công tác DĐĐT, gồm: Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đậu Thành C, Nguyễn Hồng K, Đặng Văn T, Đặng Văn Đ3, trong đó Đinh Hữu H là xóm trưởng được giao giám sát, quản lý Tiểu ban trong quá trình thực hiện DĐĐT.

Vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 15/11/2016, Đinh Hữu H đã tổ chức họp Tiểu ban chỉ đạo xóm I tại nhà H để triển khai phương án dồn điền đổi thửa, đồng thời phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, cụ thể: Nguyễn Công N cùng với Dương Thành B tổng hợp, ghi chép số liệu và đi đo đất; Đặng Văn T quản lý máy múc và đi đo đất; Đặng Văn Đ3, Nguyễn Hồng K đi đo đất; Đậu Thành C là người chấm công và đi đo đất, còn Đinh Hữu H có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý chung. Tại cuộc họp, H đã thống nhất với các thành viên của Tiểu ban trong quá trình đi đo đất, giao đất tại thực địa nếu thấy thừa đất mà các hộ dân đặt vấn đề mua thì Tiểu ban đi đo đất lúc đó sẽ bán theo giá đất đã thống nhất từ trước, sau đó về báo cáo lại với Đinh Hữu H và đưa toàn bộ tiền bán đất cho H quản lý. Quá trình giao đất sản xuất nông nghiệp cũ và nhận vị trí đất mới, các hộ dân đã nhận đủ đất theo tiêu chuẩn và không có khiếu nại gì. Trong quá trình thực hiện Dồn điền đổi thửa khoảng tháng 11/2016 đến tháng 01/2017, Đinh Hữu H đã cùng với Tiểu ban chỉ đạo DĐĐT xóm 9 (nay xóm F) cho thầu và bán (giao đất có thu tiền) 10.850m² đất nông nghiệp trái phép (gồm 11 mảnh đất) cho 10 hộ gia đình như sau:

  1. Bán cho Đinh Hữu H (thành viên tiểu ban) 1000m2 đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An với giá 30.000.000 đồng, H chưa nộp tiền.
  2. Bán cho Đặng Văn Đ3 (thành viên của tiểu ban) 1.600 m2 đất tại xứ Bàu Trộ Đ8, thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An với giá 64.000.000 đồng, Đ3 đã nộp cho tiểu ban số tiền 30.000.000 đồng.
  3. Bán cho hộ gia đình anh Nguyễn Văn H1, chị Nguyễn Thị N6 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An 500m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An với giá 14.000.000 đồng và cho thầu 4.200 m² đất tại xứ B, thuộc xóm I xã H với giá 480.000.000 đồng. Tổng giá trị là 494.000.000 đồng. Anh H1 đã nộp 375.000.000 đồng.
  4. Bán cho hộ gia đình anh Nguyễn Đình H8 và chị Nguyễn Thị T9 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 600 m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H với giá 16.000.000 đồng. Chị T9 đã nộp đủ số tiền 16.000.000 đồng cho Tiểu ban.
  5. Bán cho hộ gia đình anh Dương Thành M và chị Đậu Thị T8 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 500 m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với giá 20.000.000 đồng, chị T8 đã nộp đủ số tiền 20.000.000 đồng cho tiểu ban.
  6. Bán cho hộ gia đình anh Nguyễn Hữu H7 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 500m² đất tại xứ B, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với giá 10.000.000 đồng, anh H7 chưa nộp tiền.
  7. Bán cho hộ gia đình anh Lê Đình T7 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 500m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với giá 14.000.000 đồng, anh T7 đã nộp số tiền 14.000.000 đồng cho tiểu ban.
  8. Bán cho hộ gia đình anh Trần Văn C4 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 750m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với số tiền 32.000.000 đồng. Anh C4 đã nộp đủ số tiền 32.000.000 đồng.
  9. Bán cho anh Đậu Thành C3 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 300m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với số tiền 15.000.000 đồng. Anh C3 chưa nộp tiền.
  10. Bán cho hộ gia đình anh Nguyễn Công T6 và chị Nguyễn Thị H6 trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H 400m² đất tại xứ Đ, thuộc xóm I (nay là xóm F), xã H với số tiền 10.000.000 đồng, chị H6 đã nộp số tiền 3.000.000 đồng.

Như vậy, Đinh Hữu H và Tiểu ban chỉ đạo D1 điền đổi thửa xóm 9 đã bán, cho thầu 10.850m² đất cho 10 hộ gia đình với tổng số tiền thỏa thuận là 705.000.000 đồng, đã thu được của 7 hộ gia đình số tiền 490.000.000 đồng, còn lại 215.000.000 đồng chưa thu được.

Sau khi cơ bản đã hoàn thành xong công tác Dồn điền đổi thửa, giao đất thực địa cho các hộ dân xong, đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/01/2017, tại nhà Đậu Thành C, Tiểu ban DĐĐT xóm I (nay xóm F) gồm có: Đậu Thành C, Đặng Văn T, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Đặng Văn Đ3 và Dương Thành B đã họp tổng kết với các nội dung: Tổng hợp số tiền thu được từ việc cho thầu và bán đất cho 10 hộ gia đình; tổng hợp số tiền tạm ứng, số ngày công của các thành viên Tiểu ban, tất cả nhất trí, không có ý kiến phản đối và đều ký vào biên bản tổng hợp.

Ngoài ra, Tiểu ban DĐĐT xóm 9 (nay xóm F), xã H còn được 50 hộ gia đình nhận đất vườn đồng (không phải bốc thăm) tự nguyện đóng góp mỗi hộ 1.000.000 đồng, tổng được 50.000.000 đồng và được UBND xã H cấp số tiền 49.475.000 đồng để hỗ trợ để mua, lắp đặt cống tưới tiêu làm kênh mương thủy lợi. Như vậy, tổng số tiền thu được từ việc bán, cho thầu đất trái phép, tiền các hộ gia đình tự nguyện đóng góp và số tiền do UBND xã H hỗ trợ là: 589.475.000 đồng. Toàn bộ số tiền này không được H nhập vào quỹ của xóm, không được công khai cho nhân dân xóm 9 biết mà Đinh Hữu H tự quản lý và chi trả vào công tác dồn điền đổi thửa của xóm. Cụ thể:

+ C7 mua vật tư, trả tiền nhân công làm đường nội đồng, làm mương thoát nước, lắp đặt cống tiêu úng, tưới tiêu tại xứ Đ, Đ, C, Bàu Mũi H22, Đồng Xăng D2, Đ, Đ, Đ, Cồn Q1, Đ, Bàu Trộ Đ8, Bàu Cồn S3 hết tổng số tiền 372.586.000 đồng;

+ Chi mua bút, giấy hết 500.000 đồng;

+ Chi thuê ghế để họp dân hết 400.000 đồng;

+ Chi trả tiền công cho Đậu Thành C 10.000.000 đồng; Nguyễn Công N 10.500.000 đồng; Dương Thành B, Nguyễn Hồng K, Đặng Văn Đ3, Đặng Văn T mỗi người 9.500.000 đồng;

+ Chi trả tiền ăn cho Tiểu ban cả đợt là 36.200.000 đồng;

Tổng số tiền mà Đinh Hữu H sử dụng chi trả cho việc thực hiện dồn điền đổi thửa là 468.186.000 đồng, còn lại là 121. 289.000 đồng.

Ngày 29/6/2016, Nguyễn Văn H20 được bầu giữ chức vụ phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã H nhiệm kỳ 2016-2021. Với nhiệm vụ, trách nhiệm được giao là chủ tịch UBND xã H nhiệm kỳ 2016-2021 có trách nhiệm quản lý đất đai trên địa bàn xã H theo quy định; khi có biến động về đất hoặc đo đạc lại diện tích đất trên địa bàn thì UBND xã phải quản lý, chỉ đạo thực hiện đúng quy định. Tuy nhiên, từ khi xóm I triển khai đo đạc lại đất, giao đất thực địa cho các hộ dân trong thực hiện dồn điền đổi thửa thì H20 không quản lý, chỉ đạo, không hướng dẫn, phát hiện, không ngăn chặn, xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương theo quy định của pháp luật, dẫn đến xóm trưởng và Tiểu ban xóm 9 (nay là xóm F) đã lợi dụng vào sự thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý của chính quyền xã H mà người có trách nhiệm quản lý là Chủ tịch UBND xã H, đã bán trái phép 10.850 m² đất (đất nông nghiệp) cho các hộ dân với tổng số tiền là 705.000.000 đồng, đã thu của các hộ dân số tiền 490.000.000 đồng.

Ngày 04/10/2016, Nguyễn Hữu N5 được Chủ tịch UBND huyện H điều động về nhận công tác tại UBND xã H. Ngày 07/11/2016 UBND xã H ra quyết định số 55/QĐ-UBND kiện toàn tổ chuyên môn giúp việc cho ban chỉ đạo “Dồn điền, đổi thửa” trên địa bàn xã H, trong đó Nguyễn Văn H20 làm tổ trưởng, Nguyễn Hữu N5 làm tổ phó. Từ tháng 11/2016 đến tháng 01/2017, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức địa chính xã tại UBND xã H theo quy định, N5 không tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã H trong lĩnh vực Đất đai, không thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về đất đai trên địa bàn. Khi xóm I (nay là xóm F), xã H thực hiện phương án “Dồn điền, đổi thửa” có sự biến động về đất đai, đo đạc lại diện tích sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời quy hoạch lại đường nội đồng, hệ thống giao thông thủy lợi, giao đất thực địa cho các hộ dân nhưng N5 không trực tiếp khảo sát tại thực địa, không kiểm tra, hướng dẫn và tham mưu cho Chủ tịch UBND xã trong việc quản lý đất đai tại địa bàn xóm I (nay là xóm F), dẫn đến xóm trưởng và tiểu ban xóm I (nay là xóm F) đã lợi dụng vào sự thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý của chính quyền xã H để bán trái phép 10.850 m² đất nông nghiệp với tổng số tiền là 705.000.000 đồng, đã thu của các hộ dân số tiền 490.000.000 đồng.

Tại công văn số 1851/UBND-TNMT ngày 06/10/2022 của UBND huyện H, tỉnh Nghệ An xác định: "- Phần diện tích 10.850m² đất mà tiểu ban chỉ đạo “Dồn điền, đổi thửa” bán, cho thuê vào tháng 11/2016 đến tháng 01/2017 tại xóm I, xã H, huyện H là đất trồng lúa;

- Tại thời điểm từ tháng 11/2016 đến tháng 01/2017, phần diện tích 10.850m² đất mà tiểu ban chỉ đạo “Dồn điền, đổi thửa” bán, cho thuê tại xóm I, xã H, huyện H nằm trong quỹ đất để thực hiện “Dồn điền, đổi thửa”, thuộc quyền quản lý của UBND xã H".

Tại công văn số 1937/UBND-TNMT ngày 14/10/2022 của UBND huyện H, tỉnh Nghệ An xác định: “Tại thời điểm tháng 11/2016 đến tháng 01/2017 phần diện tích 10.850m² đất nông nghiệp tại xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An mà Cơ quan CSĐT Công an huyện H đề nghị UBND huyện H có ý kiến thuộc thẩm quyền quản lý, quyền giao đất trên bản đồ, trên thực địa cho các đối tượng sử dụng đất của UBND xã H”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 20/KLĐG-TTHS ngày 18/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: “Tổng diện tích đất 10.850m² có giá trị tại thời điểm vào năm 2016 là 496.400.000 đồng (bốn trăm chín sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng)”.

Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  2. - Tuyên bố các bị cáo Đinh Hữu H, Đặng Văn Đ3, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Đậu Thành C và Nguyễn Hồng K phạm tội: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

    - Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn Đ3, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T mỗi bị cáo 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Xử phạt: Bị cáo Đậu Thành C, Nguyễn Hồng K mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư)tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn Đ3, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng K, Đậu Thành C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, 127, 128, 137, 616 Bộ Luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử:
  4. - Buộc bị cáo Đinh Hữu H phải bồi thường số tiền 161.891.000 đồng, đã nộp 210.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp đủ, còn thừa 48.109.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo H cho các bị cáo còn lại trong vụ án.

    - Bị cáo Nguyễn Công N phải bồi thường số tiền 51.102.000 đồng, đã nộp 45.000.000 đồng; bị cáo Dương Thành B phải bồi thường số tiền 50.102.000 đồng, đã nộp 44.500.000 đồng; bị cáo Đặng Văn Đ3 phải bồi thường số tiền 50.102.000 đồng, bị cáo được trừ số tiền 30.000.000 đồng (Bị cáo đã bỏ ra để mua đất), đã nộp 14.500.000 đồng; bị cáo Đặng Văn T phải bồi thường số tiền 50.102.000 đồng, đã nộp 43.500.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Hồng K phải bồi thường số tiền 50.102.000 đồng, đã nộp 41.500.000 đồng; Bị cáo Đậu Thành C phải bồi thường số tiền 50.602.000 đồng, đã nộp 42.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn Đ3, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng K, Đậu Thành C còn thiếu, phải tiếp tục nộp lại là 41.112.000 đồng. Bị cáo Đinh Hữu H tự nguyện bồi thường số tiền này, nên các bị cáo Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn Đ3, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng K, Đậu Thành C đã nộp đủ, không cần thi hành nữa. Hoàn trả lại cho bị cáo Đinh Hữu H số tiền: 6.997.000 (sáu triệu, chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

    - Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được nhận tiền (do các bị cáo bồi thường) tại Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên. Cụ thể: Anh Nguyễn Đình H8 và chị Nguyễn Thị T9 được nhận số tiền 14.000.000 đồng; anh Dương Thành M và chị Đậu Thị T8 được nhận số tiền 15.000.000 đồng; anh Lê Đình T7 và chị Nguyễn Thị B1 được nhận số tiền 10.000.000 đồng; anh Trần Văn C4 được nhận số tiền 30.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 được nhận số tiền 375.000.000 đồng.

    Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 02/4/2024, các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An với nội dung: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích cho hợp pháp cho các bị cáo.

Ngày 02/2/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 kháng cáo với nội dung hủy toàn bộ ản án sơ thẩm và đề nghị công nhận việc chuyển nhượng 4.200m² đất nông nghiệp qua đấu giá tại cánh đồng Bàu Múi Hang và 500m2 tại cánh đồng Bươm Bướm qua Tiểu ban dồn điền đổi thửa thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ quyền sử dụng đất cho anh H1 và chị N1.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các bị cáo cho rằng bản án hình sự sơ thẩm xác định 10.850m² đất nông nghiệp cho thầu và bán cho 10 hộ dân trong xóm 9 nay là xóm F thuộc loại đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích theo quy định tại Điều 131 Luật đất đai cho nên các thành viên Tiểu ban cho thầu và bán sai, xâm phạm đến quyền quản lý và sử dụng đất của UBND xã H là không đúng. Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên thuộc loại đất được UBND huyện H giao cho cá nhân sử dụng theo Nghị định 64 NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Thủ tướng Chính phủ và mỗi cá nhân đều được Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND xã H không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện 10.850m² đất chuyển nhượng là đất chưa sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (khoản 4 Điều 132 Luật Đất đai). Bản án sơ thẩm xác định 4.200m² đất tại B Hang là đất do chị Đậu Thị N1 nhận thầu từ Tiểu ban Dồn điền đổi thửa là không đúng. Diện tích 4.200m² sát chân rừng thuộc quyền sử dụng đất của 05 cá nhân, được toàn dân xóm quyết định chuyển nhượng bằng hình thức đấu giá để lấy tiền phục vụ công tác dồn điền đổi thửa, có 04 người tham gia đấu giá và chị Đậu Thị N1 trúng đấu giá 60.000.000đ/sào. Số tiền còn lại được chia theo thăm, khẩu, chị Đậu Thị N1 bên nhận chuyển nhượng, 05 người sử dụng đất thống nhất chuyển nhượng đều được bốc thăm theo khẩu như mọi người. Bản án sơ thẩm kết luận 4.200m2 tại Bàu Múi H là đất ngoài hạn mức là không đúng. Từ năm 1996 đến nay tại xóm I nay xóm F xã H chưa có bất cứ cá nhân nào tự nguyện trả đất nông nghiệp cho Ủy ban nhân dân xã và chưa có quyết định thu hồi đất nông nghiệp tại xóm I (nay là xóm F). Bản án sơ thẩm xác định sai loại đất nông nghiệp từ Điều 131 sang Điều 132 Luật Đất đai, dẫn tới hình sự hóa quan hệ dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đậu Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Ngày 07/11/2016, UBND xã H quyết định thành lập tiểu ban Dồn điền đổi thửa tại xóm I, xã H do ông Đinh Hữu H làm trưởng tiểu ban. Ngày 13/11/2016 ông Đinh Hữu H tổ chức họp toàn dân để bàn về công tác dồn điền đổi thửa, nhân dân xóm 9 và ông H trưởng tiểu ban bàn bạc thống nhất chuyển nhượng 4.200m² đất tại Đ thuộc quyền sử dụng của 05 cá nhân gồm: Bà Nguyễn Thị L7, ông Nguyễn Hữu T24, ông Phạm Trọng L8, ông Nguyễn Công T26, ông Đặng Quỳnh. Nguồn gốc đất giao theo Nghị định 64/NĐ-CP và đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân năm 1996, hình thức chuyển nhượng là đấu giá công khai tại cuộc họp xóm. Căn cứ quy định tại Điều 190 luật Đất đai quy định “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ”. Do đó, vợ chồng chị đều là những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên nhận chuyển nhượng 4.200m² đất trồng lúa tại xã H là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật. Do đó, chị N1 và anh H1 đề nghị hủy bản án sơ thẩm và công nhận việc vợ chồng chị N1, anh H1 nhận chuyển nhượng 4.200m² đất nông nghiệp qua đấu giá tại cánh đồng Bàu Múi Hang và 500m² tại cánh đồng Bươm Bướm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tố tụng: Kháng cáo các bị cáo và người liên quan chị N1 và anh H1 làm trong hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Trên cơ sở xem xét toàn diện vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo kêu oan và đề nghị hủy án sơ thẩm của các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Đặng Thành C8, Nguyễn Hồng K; và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đậu Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1. Giữ nguyên các quyết định mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Đinh Hữu H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đậu Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, sửa bản án theo hướng miễn hình phạt cho các bị cáo là đồng phạm giúp sức cho bị cáo H, do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, xét tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của các bị cáo là không đáng kể. Cụ thể:

- Căn cứ Điều 59 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Đặng Thành C8, Nguyễn Hồng K, kể cả bị cáo Đặng Văn Đ3 (không kháng cáo).

Đề nghị HĐXX xem xét sửa phần dân sự tại bản án số 09/2024/HSST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên do bản án sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên theo công văn số 245/CV-CCTHADS ngày 14/8/2024 và công văn đính chính số 289/CV-CCTHADS ngày 19/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên (bản án sơ thẩm đã không cập nhật được nội dung đã thi hành án này), nên cần đối chiếu số liệu phiếu chi của Thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên đã cung cấp về phần Thi hành án H đã chi trả theo bản án 58/2021 ngày 29/11/2021 để đảm bảo không bị chồng chéo và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các bị cáo đã nêu.

Người bào chữa cho các bị cáo (ông Nguyễn Trung T5) trình bày quan điểm:

Về chủ thể phạm tội 06 bị cáo đều là nông dân, không phải là người có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, các gia đình và các bị cáo đều được nhận đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ, các bị cáo không có quyết định thành lập tiểu ban “Dồn điền đổi thửa”. Do đó, xét xử các bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là không đúng quy định của pháp luật. Ngày 13,14,15/11/2016, toàn thể nhân dân xóm 9 tổ chức họp dân có sự tham gia của lãnh đạo xã H để bàn bạc phương án dồn điền đổi thửa theo đề án UBND xã phê duyệt. Do quá trình thực hiện không có kinh phí để thực hiện nên toàn dân đồng ý phương án chuyển nhượng một phần đất của mình để thực thi công trình. Việc bán đất được lãnh đạo UBND xã H biết. Toàn bộ diện tích 10.850m² này là đất đã được nhà nước giao cho nhân dân không phải là đất công ích 5% của UBND xã H quản lý. Các bị cáo trong tiểu ban dồn điền đổi thửa là do dân cử, không có vụ lợi và trục lợi cá nhân. Diện tích 10.850m² do trong cuộc họp dân tự bán, dân chuyển nhượng, tiểu ban chỉ chỉ đạo, không có quyền bán. Diện tích đất này theo quy định tại Điều 130, 131 Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân được quyền chuyển nhượng, nhận thừa kế. Tổng số tiền bán đất, dân ủng hộ, xã hỗ trợ đều chi phí cho công tác dồn điền đổi thửa, các bị cáo không hưởng lợi bất chính, mỗi bị cáo được dân trả công 200.000đ/ngày. Do đó, hành vi của các bị cáo không đủ điều kiện cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy bản án Hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS – ST ngày 19/3/2024 và tuyên các bị cáo H, N, B, T, K và C8 không phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và hoàn trả cho 06 bị cáo tiền công và tiền gây thiệt hại mà các bị cáo phải bồi thường, cơ quan điều tra thu giữ không có căn cứ.

Các bị cáo đồng ý bào chữa của Luật sư và không bổ sung gì thêm.

Kiểm sát viên đối đáp:

Bị cáo H là xóm trưởng có nhiệm kỳ (phê chuẩn số 77/2015 của UBND xã). Tại Quyết định số 55a (BL 923,924,925) kiện toàn tiểu ban trang thứ 4 nêu đích danh xóm trưởng xóm I Đ, Dương Thành B, Đậu Thành C để kiện toàn tiểu ban, luật sư cho rằng không có là không đúng. Các bị cáo B, Đ3, N, K5, T thực hiện theo trưởng tiểu ban. Do đó, phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo Đinh Hữu H nên Viện kiểm sát đã đề nghị M2 hình phạt cho họ.

Luật sư cho rằng dân bán đất trong cuộc họp là không đúng, ở đây, các hộ dân mua đất giao dịch trực tiếp với các bị cáo (tiểu ban DĐĐT), các bị cáo là những người không có thẩm quyền bán đất của dân. Những người dân xóm I khai không có ai ủy quyền cho người nào khác thực hiện việc bán, cho thuê đất. Như vậy, tiểu ban chỉ được thực hiện các nội dung công việc giúp dân Dồn điền đổi thửa theo Chỉ thị 08, thời điểm giao dịch thì tất cả đất nông nghiệp giao theo Nghị định 64 đã hết thời hạn sử dụng. Quá trình thực hiện việc Dồn điền đổi thửa, các hộ dân đều nhận thức rằng, do thời hạn sử dụng đất 20 năm đã hết, họ tự nguyện thực hiện việc Dồn điền đổi thửa theo chủ trương của Đảng và chính quyền theo Chỉ thị 08, họ đều đã trả đất theo Nghị định 64/NĐ-CP và họ đã nhận đủ đất mới theo tiêu chuẩn và tập trung sản xuất nông nghiệp trên đất đó cho đến nay và không có khiếu nại gì. Do đó, luật sư cho rằng chị N1 và anh H1 mua đất của dân là không chính xác.

Luật sư đối đáp: Dân không nhận quyết định kiện toàn tiểu ban, hồ sơ do Ủy ban nhân dân xã H chèn vào, tiền bán đất đã được bị cáo đưa vào công trình, không phải chiếm đoạt.

Quá trình đối đáp Đại diện Viện kiểm sát và luật sư đều giữ nguyên ý kiến của mình.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều cho rằng mình không phạm tội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thanh B3, Đậu Thành C, Đặng Văn T và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đậu Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1 làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Đối với kháng cáo phần dân sự trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 21 và khoản 3 Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì anh H1 và chị N1 thuộc đối tượng phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo cho anh H1 chị N1 về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là thiếu sót và cần rút kinh nghiệm.

[2] Về nội dung: Từ tháng 11/2016 đến tháng 01/2017, trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 về “Đẩy mạnh vận động người dân Dồn điền đổi thửa” và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An, Đinh Hữu H, nguyên xóm trưởng xóm I (nay xóm F), xã H nhiệm kỳ 2015-2018 cùng với tiểu ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa xóm 9 (nay xóm F), xã H, gồm: Nguyễn Công N, Đặng Văn Đ3, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng K đã bán trái phép 10.850m² đất nông nghiệp (Đất thuộc thẩm quyền quản lý của UBND xã H) cho các hộ gia đình Nguyễn Văn H1; Đặng Văn Đ3; Nguyễn Đình H8; Dương Thành M; Nguyễn Hữu H7; Lê Đình T7; Nguyễn Công T6; Trần Văn C4; Đậu Thành C3 và Đinh Hữu H đều trú tại xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An với tổng giá trị là 705.000.000 đồng, đã thu của 7 hộ gia đình gồm: Nguyễn Văn H1; Đặng Văn Đ3; Dương Thành M; Lê Đình T7; Nguyễn Công T6; Trần Văn C4 và Nguyễn Đình H8 tổng số tiền 490.000.000 đồng. Hiện, 10 hộ dân trên đang sử dụng diện tích đất trên để trồng lúa và nuôi trồng thủy sản chưa thu hồi lại được, dẫn đến UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An đến thời điểm hiện nay vẫn không đưa vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm để sử dụng vào mục đích công ích của xã H. Do đó, UBND xã H, huyện H mất quyền quản lý, sử dụng 10.850m² đất nông nghiệp có trị giá 496.400.000 đồng.

Tại công văn số 1851/UBND-TNMT ngày 06/10/2022 của UBND huyện H, tỉnh Nghệ An: "- Phần diện tích 10.850m² đất mà tiểu ban chỉ đạo “dồn điền, đổi thửa” bán, cho thuê vào tháng 11/2016 đến tháng 01/2017 tại xóm I, xã H, huyện H là đất trồng lúa;

- Tại thời điểm từ tháng 11/2016 đến tháng 01/2017, phần diện tích 10.850m² đất mà tiểu ban chỉ đạo “dồn điền, đổi thửa” bán, cho thuê tại xóm I, xã H, huyện H nằm trong quỹ đất để thực hiện “dồn điền, đổi thửa”, thuộc quyền quản lý của UBND xã H".

Tại công văn số 1937/UBND-TNMT ngày 14/10/2022 của UBND huyện H, tỉnh Nghệ An xác định: Tại thời điểm tháng 11/2016 đến tháng 01/2017 phần diện tích 10.850m² đất nông nghiệp tại xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An mà Cơ quan CSĐT Công an huyện H đề nghị UBND huyện H có ý kiến thuộc thẩm quyền quản lý, quyền giao đất trên bản đồ, trên thực địa cho các đối tượng sử dụng đất của UBND xã H".

Với nội dung trên bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điểm 3 khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là có dấu hiệu oan, sai với lý do: Bản án xác định 10.850m² đất nông nghiệp cho thầu và bán cho 10 hộ dân trong xóm I (nay xóm F) là đất công ích theo Điều 131 Luật Đất đai là không đúng, toàn bộ diện tích đất nêu trên là đất được UBND huyện H giao cho cá nhân sử dụng theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng: Chủ trương công tác Dồn điền đổi thửa là các hộ dân trả lại diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại các xứ đồng đã nhận trước đây (theo Nghị định 64) cho nhà nước rồi nhận diện tích đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn, đồng thời, các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây được UBND huyện H cấp theo Nghị định 64/NĐ-CP có thời hạn 20 nên đã hết thời hạn. Do đó, các bị cáo cho rằng diện tích 10.850m² là đất nông nghiệp giao cho các hộ dân nên các hộ dân có quyền được bán theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của 10 hộ mua đất thấy rằng các hộ dân mua đất hoặc đấu thầu thông qua Tiểu ban dồn điền đổi thửa. Căn cứ Điều 54, 59 Luật Đất đai thì diện tích đất nêu trên thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện mới có quyền giao đất, cho thuê đất. Căn cứ quy định của Luật Đất đai thì Tiểu ban dồn điền đổi thửa không có quyền bán đất.

Tại phiên tòa các bị cáo và luật sư bào chữa cho các bị cáo cho rằng mình là nông dân không có chức vụ quyền hạn: Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với bị cáo Đinh Hữu H nguyên là xóm trưởng xóm I (nay xóm F) xã H nhiệm kỳ 2015 – 2018 theo Quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử số 77/QĐ-UBND ngày 01/9/2015 của Chủ tịch UBND xã H, là người có chức vụ quyền hạn được quy định tại Quyết định số 103/1999/QĐ UB ngày 22/10/1999 của UBND tỉnh N về việc ban hành quy định về tổ chức xóm, thôn, bản. Ngoài ra, bị cáo H được UBND xã H cử làm trưởng Tiểu ban chỉ đạo Dồn điền đổi thửa xóm 9 theo Quyết định số 55a/QĐ-UBND ngày 07/11/2016, trong đó nhiệm vụ của tiểu ban là trực tiếp phối hợp với tổ chuyên môn của xã để trực tiếp vận động nông dân Dồn điền đổi thửa tích tụ ruộng đất theo Chỉ thị 08.

Đối với các bị cáo Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng K là những người được nhân dân xóm 9 bầu vào Tiểu ban Dồn điền đổi thửa của xóm để thực hiện nhiệm vụ theo Chỉ thị 08 của BTV Tỉnh ủy, Chỉ thị số 17 của BTV Huyện ủy, kế hoạch, hướng dẫn của UBND huyện, UBND xã H và đề án Dồn điền đổi thửa của xã đã được UBND huyện phê duyệt là những người có nhiệm vụ quyền hạn nhất định trong công tác dồn điền đổi thửa của xóm, có quyền hạn trong việc vận động, tổ chức cho dân trong xóm dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, cùng với tổ chuyên môn của xã. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ các bị cáo đã cùng bị cáo H bán 10.850m² đất nông nghiệp, gây hậu quả thiệt hại cho nhà nước số tiền 496.400.000đ. Do đó, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo H lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ được giao. Do đó, bản án sơ thẩm kết luận các bị cáo phạm tội đồng phạm với vai trò giúp sức với bị cáo H trong tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là có căn cứ.

Tuy nhiên, xét vai trò các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo Đinh Hữu H là người có vai trò cao nhất trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng và có vai trò chính trong việc bán và cho thầu đất nông nghiệp trái phép tại xóm I, xã H, bị cáo còn là người trực tiếp đi đo đất tại thực địa để bán đất nông nghiệp 01 lần, trực tiếp thu số tiền 428.000.000₫ của người mua đất và là người quản lý toàn bộ tổng số tiền 589.475.000đ, bị cáo hưởng lợi số tiền 121.289.000đ. Bản án sơ thẩm đã đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân, điều kiện, phạm tội của bị cáo là để kịp thời cho sản xuất vụ Đông Xuân năm 2017, do nhận thức pháp luật đất đai còn hạn chế, ban đầu xuất phát từ lợi ích chung của cộng đồng, đã bán trái phép 10.850m² đất. Số tiền thu chi không công khai trước dân. Bản án sơ thẩm đã cân nhắc và quyết định mức hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo H là có căn cứ.

Đối với các bị cáo Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Nguyễn Công K6, Đậu Thành C thấy rằng, các bị cáo không có vụ lợi, được nhận tiền công nhưng số tiền này là do bán đất trái pháp luật nên buộc các bị cáo phải trả lại cho những người liên quan, đồng thời các bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo H dẫn tới việc bán đất trái thẩm quyền diện tích 10.850m² nên phải chịu trách nhiệm liên đối cùng bị cáo H bồi thường thiệt hại cho những người liên quan. Xét toàn diện vụ án thấy rằng, mức độ lỗi của các bị cáo gây ra cho xã hội không đáng kể, các bị cáo không hưởng lợi. Do đó, cần áp dụng Điều 59 Bộ luật Hình sự miễn hành phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Trong vụ án này bị cáo Đặng Văn Đ3 không kháng cáo, căn cứ, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đậu Thị N1 và anh Nguyễn Văn H1 với nội dung đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị công nhận việc chuyển nhượng 4.200m² đất nông nghiệp qua đấu giá tại cánh đồng Bàu Múi Hang và 500m² tại cánh đồng Bươm Bướm qua Tiểu ban Dồn điền đổi thửa thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành để bảo vệ quyền sử dụng đất cho anh H1 và chị N1.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An là vượt quá phạm vi kháng cáo có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của anh H1 và chị N1 được quy định tại khoản 4 Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo yêu cầu hủy toàn bản án sơ thẩm của anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1.

Nên HĐXX chỉ xem xét theo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của chị N1: đề nghị công nhận việc chuyển nhượng 4.200m² đất nông nghiệp qua đấu giá tại cánh đồng Bàu Múi Hang và 500m² tại cánh đồng Bươm Bướm qua Tiểu ban Dồn điền đổi thửa thuộc xóm I (nay là xóm F) xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành để bảo vệ quyền sử dụng đất cho anh H1 và chị N1.

Đối với nội dung này Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo không phải là chủ thể có thẩm quyền giao đất, bán đất và cho thầu đất nhưng vẫn tiến hành xác lập giao dịch là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 12; Điều 55; Điều 59 Luật Đất đai năm 2013; vi phạm Điều 688; Điều 689; khoản 1 Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 2005. Giao dịch này giữa các bị cáo với những người mua và thầu đất vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 Bộ Luật Dân sự năm 2005 nên vô hiệu theo quy định tại Điều 127, 128 Bộ luật Dân sự năm 2005. Cần áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, 127, 128, 137, 616 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015. Đối với phần diện tích đất mà anh H1 chị N1 yêu cầu trên được bán, cho thầu trái pháp luật nên anh H1 và chị N1 sử dụng đất này không đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Vì vậy, Tòa án sơ thẩm chuyển Ủy ban nhân dân xã H tiến hành các thủ tục thu hồi và xử lý phần diện tích đất đã bán, cho thầu trái phép theo quy định của luật đất đai là có căn cứ. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận. Mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm chị N1 và anh H1 không yêu cầu nhưng để giải quyết triệt để vụ án, bản án sơ thẩm buộc các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bỏ ra mua đất của anh H1 và chị N1 là có căn cứ.

[5] Về trách trách nhiệm dân sự: Xét thấy, bản án sơ thẩm xác định các bị cáo không phải là chủ thể có thẩm quyền giao đất, bán đất và cho thầu đất nhưng vẫn tiến hành xác lập giao dịch là vi phạm khoản 8 Điều 2, Điều 55, Điều 59 Luật Đất đai năm 2013; vi phạm Điều 688, Điều 689, khoản 1 Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 2005. Các giao dịch này giữa bị cáo với những người mua và thầu đất vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên vô hiệu theo quy định tại Điều 127, 128 Bộ luật Dân sự năm 2005. Áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, 127, 128, 137, 616 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo liên đới bồi hoàn số tiền 490.000.000đ cho những người liên quan là có căn cứ. Tại phiên tòa luật sư bào chữa cho các bị cáo cho rằng số tiền bị cáo H đã chi phục vụ cho lợi ích của tập thể, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi bán đất của các bị cáo trái pháp luật nên phải chịu trách nhiệm trả lại cho người liên quan như quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Quá trình điều tra bị cáo H đã nộp số tiền khắc phục hậu quả 210.000.000đ, bị cáo Đậu Thành C 42.000.000đ, bị cáo Dương Thành B 44.500.000đ, bị cáo Nguyễn Công N 45.000.000đ, bị cáo Nguyễn Hồng K 41.500.000đ, Đặng Văn Đ3 14.000.000đ, bị cáo Đặng Văn T 43.500.000đ. Tổng cộng các bị cáo đã nộp 441.000.000đ.

Ngày 19/9/2024, tại Công văn số 289/CC THADS của Chi cục Thi hành án huyện Hưng Nguyên thông báo kết quả thi hành bản án số 58/2021/HSST ngày 29/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên đã hoàn trả lại số tiền thừa cho các bị cáo Nguyễn Công N 1.069.870đ; Dương Thành B 1.069.870đ; Đặng Văn Đ3 1.069.870; Đặng văn Tính 2.679.880đ; Nguyễn Hồng K 679.880đ; Đậu Thành C 679.880đ.

Như vậy, xác định lại số tiền các bị cáo đã nộp sau khi trừ số tiền Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên trả lại cho các bị cáo như sau: Nguyễn Công N 45.000.000₫ - 1.069.870đ = 43.930.130đ; Dương Thành B 44.500.000₫ - 1.069.870đ = 43.430.130đ; Đặng Văn Đ3 14.000.000₫ - 1.069.870đ = 12.930.130đ; Đặng Văn T 43.500.000₫ – 2679.880 đ = 40.820.120đ; Nguyễn Hồng K 41.500.000₫ – 679.880₫ = 40.820.120đ; Đậu Thành Cương 42.000.000₫ – 679.880 = 41.320.120đ.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường là 284.211.000 đồng. Chia đều kỷ phần, buộc mỗi bị cáo phải nộp 284.211.000đ : 7 (bị cáo) = 40.602.000 đồng.

Như vậy, số tiền cụ thể buộc các bị cáo bồi thường như sau: Bị cáo H trả lại số tiền thu lợi bất chính 121.289.000đ và bồi thường số tiền 40.601.571đ = 161.890.571đ, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 210.000.000đ. Bị cáo Đ3 trả lại số tiền thu lợi 9.500.000đ và bồi thường 40.602.000đ = 50.101.571đ bị cáo đã bồi thường trước 42.930.130đ. Bị cáo N trả lại số tiền thu lợi 10.500.000đ và bồi thường số tiền 40.601.571đ = 51.101.571đ, bị cáo đã nộp trước 43.930.130đ. Bị cáo T, buộc bị cáo trả lại số tiền thu lợi 9.500.000đ và bồi thường số tiền 40.601.571đ = 50.101.571đ, đã nộp trước 40.820.120đ. Bị cáo B trả lại số tiền thu lợi 9.500.000₫ và bồi thường 40.601.571₫ = 50.101.571đ, đã nộp trước 43.430.130đ. Bị cáo C trả lại số tiền thu lợi 10.000.000đ và bồi thường số tiền 40.601.571đ = 50.601.571đ, bị cáo đã bồi thường trước 41.320.120đ. Bị cáo K trả lại số tiền thu lợi 9.500.000đ và bồi thường số tiền 40.601.571₫ = 50.101.571đ, bị cáo đã bồi thường trước 40.820.120đ cho những người liên quan cụ thể anh Nguyễn Đình H8 và chị Nguyễn Thị T9 số tiền 16.000.000đ, anh Dương Thành M và chị Đậu Thị T8 số tiền 20.000.000đ, anh Lê Đình T7 và chị Nguyễn Thị B1 số 14.000.000đ, anh Trần Văn C4 số tiền 32.000.000₫, anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 số tiền 375.000.000đ . Quá trình giải quyết vụ án những người liên quan đã nhận đủ số tiền tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên, trừ anh H1 và chị N1 chưa nhận tiền.

[4] Về án phí: Bị cáo Đinh Hữu H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm trong vụ án hình sự.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo Đinh Hữu H, Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1.
  2. Áp dụng Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa bản án sơ thẩm như sau:

    1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 65 (đối với bị cáo H), áp dụng Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Đ3, N, B, T, C và K.
    2. - Tuyên bố các bị cáo Đinh Hữu H, Đặng Văn Đ3, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Đậu Thành C và Nguyễn Hồng K phạm tội: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

      - Xử phạt: Bị cáo Đinh Hữu H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Đinh Hữu H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

      Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      - Xử phạt: Miễn hình phạt đối với các bị cáo Đặng Văn Đ3, Nguyễn Công N, Dương Thành B, Đặng Văn T, Đậu Thành C, Nguyễn Hồng K.

    3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 121, 122, 123, 124, 127, 128, 137, 616 Bộ Luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử:
    4. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho những người liên quan số tiền như sau:

      Bị cáo Đinh Hữu H số tiền là 161.890.571đ (Một trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm chín mươi nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), bị cáo đã tự nguyện bồi thường 210.000.000₫ (Hai trăm mười triệu đồng).

      Bị cáo Đặng Văn Đ3 50.101.571đ (Năm mươi triệu một trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), bị cáo Đ3 đã tự nguyện nộp trước 42.930.130đ (Bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi đồng).

      Bị cáoNguyễn Công Năng 51.101.571đ (Năm mươi mốt triệu một trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), bị cáo đã nộp trước 43.930.130₫ (Bốn mươi ba triệu chín trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi đồng). Bị cáo Đặng Văn T 50.101.571đ (Năm mươi triệu một trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), đã nộp trước 40.820.120₫ (Bốn mươi triệu tám trăm hai mươi nghìn một trăm hai mươi đồng). Bị cáo Dương Thành B 50.101.571₫ (Năm mươi triệu một trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), đã nộp trước 43.430.130đ (Bốn mươi ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi đồng).

      Bị cáo Cương Đậu T31 Cương 50.601.571đ (Năm mươi triệu sáu trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), bị cáo đã bồi thường trước 41.320.120₫ (Bốn mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn một trăm hai mươi đồng).

      Bị cáo Nguyễn Hồng K 50.101.571đ (Năm mươi triệu một trăm linh một nghìn năm trăm bảy mươi mốt đồng), bị cáo đã bồi thường trước 40.820.120₫ (Bốn mươi triệu tám trăm hai mươi nghìn một trăm hai mươi đồng), số tiền các bị cáo bồi thường trước đã được Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên trả cho những người liên quan cụ thể anh Nguyễn Đình H8 và chị Nguyễn Thị T9 số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), anh Dương Thành M và chị Đậu Thị T8 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), anh Lê Đình T7 và chị Nguyễn Thị B1 số 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng), anh Trần Văn C4 số tiền 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng) đã thực hiện xong.

      Buộc các bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 số tiền 375.000.000₫ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

      - Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được nhận tiền do các bị cáo trả lại tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 được nhận số tiền 375.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

      Đối với số tiền bị cáo Đinh Hữu H đã tự nguyện nộp để bồi thường thiệt hại cho những người liên quan, những bị cáo còn lại phải trả lại cho bị cáo H theo quy định của pháp luật, trường hợp các bị cáo không trả thì bị cáo H có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khi có yêu cầu.

    5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đinh Hữu H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Công N, Nguyễn Hồng K, Dương Thành B, Đậu Thành C, Đặng Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    6. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 và chị Đậu Thị N1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự phúc thẩm trong vụ án hình sự.

    7. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND h. Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS h. Hưng Nguyên;
  • - Công an h. Hưng Nguyên;
  • - UBND xã Hưng Yên Nam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sơ Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu Hsơ, Toà hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hải Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự: lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 107/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger