Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Thùy Trinh;

- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Tạ Văn Đài;

- Ông Nguyễn Đình Quang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Phạm Văn C (tên gọi khác: không), sinh ngày 07 tháng 5 năm 1984 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn  (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Bị cáo có vợ và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa;
  2. Vũ Hoàng T (tên gọi khác: không), sinh ngày 11 tháng 6 năm 2000 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Duy T1 và bà Nguyễn Thị T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự : không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa;
  3. Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày 09 tháng 3 năm 1994 tại Nghệ An; nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Cao H (đã chết) và bà Hồ Thị C1; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa;
  4. Nguyễn Tất P (tên gọi khác: không), sinh ngày 05 tháng 12 năm 1992 tại Nghệ An; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tất H1 và bà Đinh Thị Kim C2; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính:
  2. Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S và Nguyễn Tất P là bạn bè quen biết nhau. Khoảng 12 giờ ngày 28/12/2023, C, T, P và S đến quán B tại số A khu A ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai do Lê Văn C3 làm chủ để chơi bi da. Các đối tượng đánh bị da được một lúc thì quán mất điện nên vào phòng kho của quán ngồi chơi với nhau. Tại đây, C, T, S và P lấy 01 bộ bài tây 52 lá có sẵn ở bàn bi da của quán rồi cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh bài “xì dách”; hình thức đánh bạc như sau: Các con bạc quy ước với nhau mỗi người làm cái 03 ván (xoay tua theo vòng). Trước khi chia bài các con bạc (trừ người làm cái) đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng ở ngay trước vị trí mình ngồi, người làm cái chia cho mỗi con bạc 02 lá bài, số bài còn lại được đặt ở giữa chiếu bạc để các con bạc rút thêm (nếu cần). Sau khi chia bài xong các con bạc lấy 02 lá bài của mình lên xem và quyết định rút thêm hay không, sao cho số điểm cộng lại của các lá bài phải từ 16 điểm đến 21 điểm, trên 21 điểm gọi là “ngoắc”. Các con bạc thay phiên nhau rút các lá bài, người làm cái rút cuối cùng, sau khi rút xong thì người làm cái kiểm tra tất cả bài của các con bạc để so với bài của mình, ai cao điểm hơn (trong giới hạn 16 đến 21 điểm) thì thắng, bằng điểm thì hòa, thắng thua trực tiếp bằng tiền mặt và bằng đúng số tiền đặt cược. Khi chia bài xong nếu người làm cái hoặc con bạc có 02 lá bài “A” (xì) gọi là “xì bàn” và 01 lá bài “A” kết hợp với 01 lá bài nằm trong các quân bài “10, J, Q, K” gọi là “xì dách” thì được xử thắng trực tiếp. Ngoài ra người làm cái hoặc các con bạc rút thêm 03 lá bài mà có tổng số điểm nhỏ hơn 22 điểm gọi là “ngũ linh” thì được tính là thắng cược; đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện T bắt quả tang.

  3. Vật chứng của vụ án:
    • Số tiền 9.620.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc;
    • 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
    • 04 điện thoại di động các loại thu giữ của các bị cáo;
  4. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
    1. Truy tố: Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-TB ngày 14 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    2. Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:
      1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35; Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt các bị cáo Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;
      2. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.620.000 đồng (chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; Đối với 04 điện thoại di động các loại thu giữ là tài sản của các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp;
      3. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng:
  2. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

  3. [2] Về tội danh:
  4. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở để xác định, ngày 28/12/2023, Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài “xì dách” tại quán B tại số A khu A ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai do Lê Văn C3 làm chủ với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 9.620.000 đồng (chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

  5. [3] Về trách nhiệm hình sự:
    1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
    2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; giai đoạn điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    3. Về hình phạt: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, bộc phát và thực hiện hành vi phạm tội với vai trò như nhau. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội này đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là đủ để giáo dục và phòng ngừa chung; do đó áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước; Tuy nhiên, bị cáo Vũ Hoàng T sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất nên cần áp dụng mức phạt tiền cao hơn các bị cáo còn lại để răn đe.
  6. [4] Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 9.620.000 đồng (chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng);
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
    • - Đối với 04 điện thoại di động các loại thu giữ là tài sản của các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp;
  7. [5] Nội dung khác:
  8. Đối với Lê Văn C3 là chủ quán bida 777, không biết việc các bị cáo đánh bạc tại quán. Quá trình đánh bạc, C3 không có mặt tại quán. Tuy nhiên phải chịu trách nhiệm về hành vi “Chủ cơ sở kinh doanh thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động đánh bạc ở cơ sở do mình quản lý” quy định tại điểm đ, khoản 3, Điều 28 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp;

  9. [6] Về án phí:
  10. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

  11. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P phạm tội “Đánh bạc”;
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Đậu Cao S 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất P 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 9.620.000 đồng (chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng);
    • Theo biên lai thu tiền số 0003526 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;
    • Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2024.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; - Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C, Vũ Hoàng T, Đậu Cao S, Nguyễn Tất P phạm tội “Đánh bạc”;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger