|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/DS-ST Ngày 24-4-2024 “V/v tranh chấp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh
Ông Nguyễn Việt Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Bà Phạm Huỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 135/2024/QĐ-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, Sinh năm 1952 (có mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978 (có mặt)
- 2. Bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q), sinh năm 1978 (xin vắng mặt)
- Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà L trình bày: Trước đây bà có tham gia hụi của vợ chồng ông N làm chủ hụi, loại hụi 5.000.000 đồng, bà tham gia một chưng, bà đã đóng hụi được 18 lần, sau đó đình hụi, số tiền vợ chồng ông N thiếu bà 90.000.000 đồng, bà đã nhận từ bà Tư C 10.000.000 đồng để trừ số tiền vợ chồng ông N thiếu bà (giữa bà và N, bà C thỏa thuận, bà C trả bà 10.000.000 đồng), sau đó vợ chồng ông N có viết tờ cam kết ngày 11/11/2019 thiếu bà 80.000.000 đồng, ông N có trả thêm bà 1.000.000 đồng. Như vậy số tiền vợ chồng N còn thiếu bà 79.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn N trình bày:
Trước đây vợ chồng ông (vợ Huỳnh Thị H, sinh năm 1978 còn tên gọi là Huỳnh Thị Q) có mở hụi 5.000.000 đồng, bà L tham gia 01 chưng, sau đó đình hụi do các hụi viên không đóng hụi cho ông. Do đình hụi nên đến ngày 11/11/2019 giữa vợ chồng ông và bà L có chốt hụi vợ chồng ông có viết tờ cam kết thiếu bà L số tiền 80.000.000 đồng. Sau đó ông đã đưa cho bà L 1.000.000 đồng, ông thống nhất còn thiếu bà L 79.000.000 đồng như bà L trình bày và đồng ý trả số tiền này.
Bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q) trình bày: Bà xác định còn thiếu tiền hụi bà L số tiền 79.000.000 đồng, do điều kiện ở xa bà đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Bà L trình bày tranh luận: Bà yêu cầu vợ chồng ông N phải có trách nhiệm trả cho bà tiền hụi thiếu 79.000.000 đồng.
Ông N trình bày: Hiện tại hoàn cảnh gia đình ông gặp khó khăn, ông đồng ý trả bà L số tiền hụi 79.000.000 đồng, nhưng trả một lần thì không có khả năng.
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L đối với ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q). Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q) trả cho bà L tiền hụi thiếu 79.000.000 đồng.
Án phí sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, phần tranh luận, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tố tụng:
[1] Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q) trả tiền hụi, bị đơn có nơi cư tại huyện V, do đó xác định mối quan hệ pháp luật giữa các đương sự là “tranh chấp hụi” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Vắng mặt của đương sự: Bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q) có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên là đúng quy định.
- Về nội dung:
[3] Theo bà L xác định bà có tham gia hụi của vợ chồng ông N làm chủ hụi, loại hụi 5.000.000 đồng, bà tham gia một chưng, bà đã đóng hụi được 18 lần, sau đó đình hụi, vợ chồng ông N có viết tờ cam kết ngày 11/11/2019 thiếu bà 80.000.000 đồng, ông N, bà H có trả cho bà 1.000.000 đồng, như vậy số tiền vợ chồng ông N còn thiếu bà 79.000.000 đồng. Bà yêu cầu vợ chồng ông N trả số tiền 79.000.000 đồng, ông N và bà H thừa nhận có thiếu bà L số tiền 79.000.000 đồng.
[4] Hội đồng xét xử thấy rằng, việc bà L tham gia hụi do vợ chồng ông N làm chủ hụi là thực tế có xãy ra, được ông N, bà H thừa nhận còn thiếu tiền hụi 79.000.000 đồng, đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoảng 3 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L đã đóng hụi đầy đủ cho vợ chồng ông N, tuy nhiên việc đình hụi không phải lỗi của bà L, do đó bà L khởi kiện yêu cầu ông N, bà H trả số tiền bà L đã đóng là có căn cứ phù hợp Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tại phiên tòa có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Từ những phần tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà H (Q), ông N trả cho bà L số tiền hụi 79.000.000 đồng.
[6] Án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của bà L nên bà H (Q), ông N phải chịu án phí sơ thẩm 3.950.000 đồng. Bà L là người cao tuổi được miễn dự nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L đối với ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q).
Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q) trả cho bà Lê Thị L số tiền 79.000.000 đồng (Bảy mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Án phí sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Huỳnh Thị H (Huỳnh Thị Q), ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí sơ thẩm 3.950.000 đồng (chưa nộp).
- Án xử sơ thẩm, các đương sự có có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Len |
Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 107/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N tar tiền hụi
