Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Tuyết

Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 110/2024HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bằng Thiếu V (tên gọi khác: Bành T, Văn T), sinh ngày 05 tháng 10 năm 1966 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 370/39 M, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: 3/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bằng Đ (chết) và bà Tô Nguyệt Q (chết); Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 18/8/2010 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 27/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù (chưa chấp hành xong bản án); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/5/1986 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, đến ngày 01/11/1986 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 09/12/1987 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đến ngày 28/02/1990 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 09/02/1993 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (đã chấp hành xong bản án); Ngày 07/4/2004 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 28/4/2006 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2023 (có mặt tại phiên tòa).

2. Lê Chí S (tên gọi khác: C), sinh ngày 26 tháng 11 năm 1974 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 216 lô E chung cư H, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: 03/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thi H (chết) và bà Lê Thị M; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 22/12/2014 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 (mười hai) năm tù về các tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, đến ngày 30/01/2021 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/7/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, đến ngày 25/10/2007 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án);

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 (có mặt tại phiên tòa).

3. Phạm Hoàng C1 (tên gọi khác: Châu điên), sinh ngày 09 tháng 07 năm 1965 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 407 Lô C Chung cư L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M1 (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); Có vợ tên Nguyễn Thị Tuyết M2; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/11/1982 bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 15/12/1983 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến năm 1987 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 20/6/1991 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (đã chấp hành xong bản án); Ngày 20/01/1994 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo kháng cáo, đến ngày 08/11/1994 Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm tù, đến ngày 08/03/1997 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 24/6/1998 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, đến ngày 21/6/2002 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 09/9/2005 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 04/7/2010 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 16/01/2012 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 12/02/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 (có mặt tại phiên tòa)

4. Trần Thanh L, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1986 tại: Vĩnh Long; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị P; Có vợ tên Nguyễn Thị Oanh K; Có 01 người con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 (có mặt tại phiên tòa).

5. Trà Đăng P1 (tên gọi khác: Phước chột), sinh ngày 05 tháng 01 năm 1979 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 378/3 N, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: G Lô A, chung cư N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trà Đăng Đ1 và bà Ngô Thị Ánh T2; Có vợ tên Nguyễn Thị Như Ý; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 26/11/2010 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 21/6/2018 chấp hành xong hình phạt tù (chưa chấp hành xong bản án); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/6/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 28/4/2007 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Nguyễn Hồng L1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: G1409 Chung cư G, Số I N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phạm Công B1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: A P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bà Lê Thị T3, sinh năm ;Nơi cư trú: C N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Ông Phạm Minh T4, sinh năm 1958; Nơi cư trú: C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Công ty TNHH T6, địa chỉ trụ sở: D16/22/5A Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Công N, sinh năm 1979; Nơi cư trú: D Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  1. Bà Châu Thị Thu H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
  2. Ông Võ Trung H2, sinh năm 1976; Nơi cư trú: A T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Nguyễn Thị L2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: 1 N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
  4. Ông Trần Thanh L3, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 769/28/68 P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Bà Lưu Bích V1, sinh năm 1979; Nơi cư trú: H T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 06/3/2023, Bằng T cùng đối tượng tên N1 (chưa rõ lai lịch) đang ngồi uống cà phê tại quán số C N, Phường F, Quận A thì N1 rủ V đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và V đồng ý. V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số: 59M2-635.74 chở N1 ngồi sau cầm theo 01 cây kìm cộng lực đi đến quán “Holi Coffee” địa chỉ số A Bis T, Phường A, Quận E. Đến nơi xác định trong quán không có người, cửa ngoài khóa trái nên N1 xuống xe và cầm kìm cộng lực cắt khoen khóa cửa quán, V đứng phía ngoài cảnh giới. Lúc N1 cắt xong khoen khóa cửa thì đưa lại cây kìm cộng lực cho V đem để tại góc đường N-T, Phường A, Quận E. Sau đó, V cùng với N1 đi vào trong quán lấy trộm 09 lần (lần 1, 2 và 3 mỗi lần lấy trộm 01 tán dù do N1 trực tiếp lấy và V phụ giúp chở đi; lần 4, 5 lấy khoảng 10 ghế do V và N1 cùng lấy; lần 6, 7 và 8 mỗi lần lấy trộm 01 cây quạt do N1 trực tiếp lấy và Văn phụ chở đi; lần 9 lấy khoảng 07 cái ghế do V và N1 cùng lấy). Sau khi lấy được tài sản, V cùng N1 đem tài sản lấy trộm về để tại vựa phế liệu số 147/4 N, Phường A, Quận E cất giấu.

Đến khoảng 04 giờ ngày 06/3/2023, Lê Chí S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate, màu xám, biển số: 55N6-2150 chở khách đi ra Bến xe M về tới quán cà phê số C N, Phường F, Quận A thì gặp và được V cho biết mới lấy trộm tài sản tại quán “Holi Coffee”, hiện trong quán còn nhiều tài sản. Lúc này, N1 rủ S tiếp tục đi trộm cắp tài sản thì S đồng ý. Khi chuẩn bị đi, Phạm Hoàng C1 đi xe ôm chạy đến nên S rủ đi cùng và C1 đồng ý. Sùng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate, màu xám biển số: 55N6-2150 chở C1 đi từ ngã tư N- N đến quán cà phê “Holi Coffee” và nhìn thấy N1 đang bên trong quán. C1 và S đi vào trong quán cùng với N1 lấy trộm 03 lần (lần 1 lấy trộm 06 cái ghế xếp bằng kim loại, lần 2 và 3 lấy trộm 01 máy xịt rửa xe, 01 cây đàn guitar và 01 bộ dụng cụ khoan cầm tay để trong hộp nhựa, 01 tivi S), tất cả tài sản lấy trộm được S cùng C1 chở về tập kết tại bãi đất trống góc ngã tư N- N (trước nhà số C N, Phường F, Quận A). Sau đó, S tiếp tục đến quán cùng với N1 lấy trộm 02 lần (khoảng 18 ghế xếp bằng kim loại, không có sự tham gia của C1).

Đến sáng ngày 06/3/2023, Trần Thanh L đang đậu xe chờ khách tại trước quán cà phê số C N, Phường F, Quận A nhìn thấy V điều khiển xe nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển số: 59N2-635.74 chở N1 cầm 01 cây quạt màu đen (loại quạt công nghiệp), S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hayate màu xám, biển số: 55N6-2150 chở C1 ôm theo 01 tivi và nhiều ghế xếp bằng kim loại (khoảng vài chục cái) về để tại trước quán cà phê. Lúc này, N1 rủ L tiếp tục đi trộm cắp tài sản thì L đồng ý nhưng không trực tiếp vào lấy trộm tài sản. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78 chở N1 đến quán cà phê “Holi Coffee” và L chạy xe ra gần Bệnh viện H4 để đứng đợi. Khi N1 lấy trộm được tài sản, L chạy đến chở N1 về lại quán cà phê số C N, Phường F, Quận A. Tại đây, L cho biết lấy trộm 03 cây thuốc lá (02 cây thuốc hiệu Craven và 01 cây thuốc lá hiệu Jet) và đánh rơi 01 cây thuốc lá hiệu Jet tại trước quán nên yêu cầu V quay lại nhặt. V điều khiển xe đến quán “Holi C2” nhặt 01 cây thuốc lá hiệu Jet phía trước quán rồi đem về, L, N1 và Văn chia nhau mỗi người 01 cây thuốc lá để hút.

Vào sáng ngày 06/3/2023, tại quán số C N, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Trà Đăng P1 mua lại của V, tên N1 và S 37 cái ghế xếp bằng kim loại với giá 50.000 đồng/cái (tổng số tiền 1.850.000 đồng). Ngoài ra, P1 mua của V 03 cây quạt máy với tổng số tiền 1.000.000 đồng; mua của C1 01 cây đàn guitar với giá 200.000 đồng; mua của L 01 tivi hiệu S2 với giá 1.500.000 đồng. Do tivi hiệu S2 không sử dụng được nên P1 nhờ người bán cho cửa hàng điện tử ở đường N (không rõ địa chỉ) với giá 3.500.000 đồng. Trà Đăng P1 khai nhận biết các tài sản thu mua của C1, N1, V, S và L là tài sản do phạm tội mà có nhưng thấy giá rẻ, còn sử dụng được nên vẫn đồng ý mua.

Khoảng 05 giờ 00 sáng ngày 06/3/2023, bà Nguyễn Hồng L1 (chủ quán “Holi Coffee”) được thông báo quán mở cửa nhưng không thấy nhân viên. Khoảng 05 giờ 15 cùng ngày, bà L1 đến quán phát hiện cửa quán mở (mặt đường T) bị cắt khoen khóa bên phải, cửa chính phía trong quán gần quầy pha chế cũng bị cắt khoen khóa bên phải, phía trong quán bị xáo trộn, trên ghế sofa gần quầy pha chế có nhiều dấu vết giày, dép để lại. Qua kiểm tra, phát hiện bị mất nhiều tài sản của quán trị giá khoảng 50.000.000 đồng. Sau đó, bà Nguyễn Hồng L1 trình báo sự việc đến Công an P2, Quận E sau đó vụ việc đưa chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền.

Đến ngày 28/3/2023 và ngày 07/4/2023 Công an Q1 kiểm tra và tiến hành mời Lê Chí S, Phạm Hoàng C1, Trần Thanh L, Trà Đăng P1 và Bằng T về làm việc. Khám xét chỗ ở của Trà Đăng P1 tại quán C3 (số G lô A chung cư N, Phường 1, Quận E) thu giữ: 37 cái ghế xếp, 03 cây quạt và 01 cây đàn guitar là tài sản trộm cắp. Khám xét chỗ ở của Lê Chí S tại phòng 311, nhà số C Tỉnh lộ 10, phường A, quận B thu giữ: 01 áo khoác dài tay hiệu Gojek màu xanh lá cây và 01 quần kaki dài màu nâu sữa là trang phục mặc khi đi trộm cắp tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, Bằng Thiếu V2, Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 06/3/2023 tại quán “Holi Coffee” và Trà Đăng P1, Trần Thanh L khai nhận toàn bộ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như trên.

Ngoài ra, các bị cáo còn khai nhận như sau:

Bằng Thiếu V2 khai nhận: V2 là người trực tiếp bán 17 cái ghế xếp bằng kim (sơn màu đen) và 03 cây quạt cho Trà Đăng P1. V2 được chia số tiền 1.710.000 đồng và 01 cây thuốc lá hiệu Craven.

Lê Chí S khai nhận: Sùng cùng N1 bán cho Trà Đăng P1 20 cái ghế xếp bằng kim loại (thân không sơn màu) và bán cho G Síu M3 01 tivi hiệu Samsung 65 inch với giá 3.500.000 đồng. Sùng được chia tổng số tiền 1.850.000 đồng.

Phạm Hoàng C1 khai nhận: C1 bán cho Trà Đăng P1 01 cây đàn ghita với giá 200.000 đồng. C1 được chia tổng số tiền 1.400.000 đồng.

Trần Thanh L khai nhận: L có nhìn thấy N1 lấy 01 két thu ngân màu đen, kiểm tra bên trong có số tiền 160.000 đồng nên L đưa hết tiền và két thu ngân cho N1, được chia số tiền 1.250.000 đồng từ tiền bán tivi hiệu S2 cho Giềng Síu M4 và 01 cây thuốc lá hiệu Jet. Sau đó, do Giềng Síu M5 trả lại tivi nên L bán lại cho Trà Đăng P1 với giá 1.500.000 đồng. Đến ngày 14/3/2023, L đem xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78 đến cửa tiệm C4, số A T, Phường D, Quận H do ông Võ Trung H2 làm chủ tiệm để cầm cố với giá 25.000.000 đồng.

Ngày 28/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc ông Võ Trung H2 (chủ tiệm cầm đồ), ông H2 trình bày có cầm cố của Trần Thanh L chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78 với số tiền 25.000.000 đồng, ông H2 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho Cơ quan Công an và đề nghị giải quyết về dân sự buộc bị cáo L trả lại số tiền 25.000.000 đồng mà ông đã cầm cố.

Trà Đăng P1 khai nhận: vào sáng ngày 06/3/2023, khi ngồi uống cà phê tại quán số C N, Phường F, Quận A thì V2, N1 và S kêu bán tổng số 37 cái ghế xếp bằng kim loại với giá 50.000 đồng/cái (tổng số tiền 1.850.000 đồng). Ngoài ra, P1 mua của đối tượng Văn 03 cây quạt máy với tổng số tiền 1.000.000 đồng và mua của C1 01 cây đàn guitar với giá 200.000 đồng; mua của L 01 tivi hiệu S2 với giá 1.500.000 đồng. Do tivi hiệu S2 không sử dụng được nên P1 nhờ người bán cho cửa hàng điện tử ở đường N (không rõ địa chỉ) với giá 3.500.000 đồng. Trà Đăng P1 khai nhận biết các tài sản thu mua của C1, N1, V2, S và L là tài sản do phạm tội mà có nhưng thấy giá rẻ, còn sử dụng được nên vẫn đồng ý mua.

Giềng Síu M5 khai nhận: Khoảng đầu tháng 3/2023, khi M5 đến quán cà phê tại góc ngã tư N - N, Phường F, Quận A thì S và L cho biết có 01 tivi cần bán giá 3.000.000 đồng. M5 đồng ý mua và nhờ Sùng chở về quán C3 (số G lô A chung cư N, Phường 1, Quận E) để nhờ. Tối cùng ngày, M5 đem tivi lên phòng 206 lô A chung cư N, Phường I, Quận E kiểm tra thì thấy tivi vẫn hoạt động nhưng không phù hợp sử dụng trong nhà. M5 liên lạc với L cho biết không muốn sử dụng và trả lại cho L lấy lại số tiền 1.500.000 đồng. Giềng Síu M5 không thừa nhận việc biết tivi của S là do phạm tội mà có.

Đối với số tài sản trộm cắp còn lại gồm: 03 cái tán dù, két thu ngân màu đen, 01 máy xịt rửa xe màu đen, 01 thùng đồ nghề máy khoan và 01 cây thuốc lá hiệu Craven do N1 đem đi tiêu thụ nên không rõ giá trị, bán cho ai và ở đâu. Đối với 18 hộp sữa V3, hộp giấy màu xanh lá cây, có chữ Southern Star, trọng lượng 1284 gam/hộp do bị hại trình báo bị trộm cắp, quá trình điều tra các bị can khai nhận không thực hiện việc trộm cắp tài sản đối với số sữa trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh có chữ Gojek; 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xám; 01 (một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu vàng, trên mặt có chữ Citizen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme C17, số Imei 1: 867366042463817, số Imei 2: 867366042463809; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Remo 3 màu tím, số Imeil: 860202042301276, số I: 860202042301268; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, số Imeil: 357766075610975, số Imei2: 357767075610793; 01 (một) điện thoại di động N2-1174 màu đen, số Imeil: 3531151110475247, số I: 353115116047522; 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1010 màu xanh, số Imei: 356005080064735; 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ-đen, biển số: 54R3-1761, số khung: UM91104045, số máy: FMH104045; 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 59M2-635.74, số khung: RLHJK0301NY007767, số máy: JK03E0078432; 01 (một) xe máy hiệu Honda Charly, biển số 50AB-6299, số khung: CF502756518, số máy: CF50E2756560; 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Dylan, màu đỏ, biển số: 51H1-3460; số khung: ZDCKF05A03F051750; số máy: HIKF03E0046176; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen- xanh lá có chữ Gojek; 01 (một) quần kaki màu nâu; 01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate, biển số 55N6-2150, số khung: RLSCF4EHOAO111028, số máy: F4A517508; 01 (một) giấy đăng ký xe, biển số: 55N6-2150 mang tên Công ty T6; 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu trắng- đỏ, biển số: 64G1-144.12, số khung: RLCSE9210FY038799, số máy: E3R7E038802; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 64G1-144.12 mang tên Châu Thị Thu H1;01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78, số khung: RLHKF4100MZ625772, số máy: KF41E0166590; 01 (một) xe gắn máy dạng Wave, biển số 52T5-7535, số khung: VTTDCH 0A4TT182720, số máy: VTT1P52FMH182720; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 52T5-7535; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số: 64G1-389.78; 01 (một) Tivi nhãn hiệu Samsung, 65 inch (không nhớ M6); 01 (một) két thu ngân màu đen (không có nhãn hiệu); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng xanh, không có thông tin về kiểu loại nên không có cơ sở định giá; 01 (một) cây quạt đứng nhãn hiệu Lifan màu đen, cao khoảng 1,4m; 01 (một) quạt đứng nhãn hiệu Ching Hai Tai Wan màu đen, cánh quạt màu đỏ cao 1,2m; 01 (một) cây quạt công nghiệp màu đen, model D-24CX, cao khoảng 1,8m; 01 (một) cây đàn guitar bằng gỗ; 01 (một) máy xịt rửa xe màu đen (nhãn hiệu So Easy, không nhớ Model); 03 (ba) thân và tán dù loại lệch tâm, thân và vải dù màu đen, tân đủ rộng khoảng 2,5m, cao khoảng 2,5m; 01 (một) thùng đồ nghề máy khoan, hộp nhựa màu đen, máy khoan cầm tay thân màu đỏ, trên thân có chữ DIY (không nhớ Model); 20 (Hai mươi) cái ghế xếp bằng kim loại, có thân sơn màu đen; 40 (bốn mươi) cái ghế xếp bằng Inox; 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven; 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet; 18 (mười tám) hộp sữa Vinamilk P, hộp giấy màu xanh lá cây, có chữ Southern Star, trọng lượng 1284 gam/hộp; 01 (một) USB chứa dữ liệu điện tử trích xuất từ camera ghi nhận nội dung liên quan (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận:

  • 01 (một) Tivi nhãn hiệu Samsung, 65 inch (không nhớ Model), đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 55%, có giá 5.000.000 đồng/chiếc (năm triệu đồng);
  • 01 (một) két thu ngân màu đen (không có nhãn hiệu), đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75%, có giá 200.000 đồng/chiếc (hai trăm nghìn đồng);
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng xanh, không có thông tin về kiểu loại nên không có cơ sở định giá;
  • 01 (một) cây quạt đứng nhãn hiệu Lifan màu đen, cao khoảng 1,4m, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% có giá 200.000 đồng/cây (hai trăm nghìn đồng);
  • 01 (một) quạt đứng nhãn hiệu Ching Hai Tai Wan màu đen, cánh quạt màu đỏ cao 1,2m, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75%, có giá 200.000 đồng/cây (hai trăm nghìn đồng);
  • 01 (một) cây quạt công nghiệp màu đen, model Đ-24CX, cao khoảng 1,8m, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% trị giá 550.000 đồng/cây (năm trăm năm mươi nghìn đồng);
  • 01 (một) cây đàn guitar bằng gỗ, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 65%, có giá 550.000 đồng/cây (Năm trăm năm mươi nghìn đồng);
  • 01 (một) máy xịt rửa xe màu đen (nhãn hiệu So Easy, không nhớ Model), đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 60%, có giá 300.000 đồng/cây (Ba trăm nghìn đồng);
  • 03 (ba) thân và tán dù loại lệch tâm, thân và vải dù màu đen, tân đủ rộng khoảng 2,5m, cao khoảng 2,5m, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85%, có giá 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng);
  • 01 (một) thùng đồ nghề máy khoan, hộp nhựa màu đen, máy khoan cầm tay thân màu đỏ, trên thân có chữ DIY (không nhớ Model), đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85%, có giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng);
  • 20 (Hai mươi) cái ghế xếp bằng kim loại, có thân sơn màu đen, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 50% có giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);
  • 40 (bốn mươi) cái ghế xếp bằng Inox, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 50%,có giá 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng);
  • 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven, chưa qua sử dụng, tỷ lệ mới 100%, có giá 480.000 đồng (Bốn trăm tám mươi nghìn đồng);
  • 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, chưa qua sử dụng, tỷ lệ mới 100%, có giá 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng);
  • 18 (mười tám) hộp sữa Vinamilk P, hộp giấy màu xanh lá cây, có chữ Southern S1, trọng lượng 1284 gam/hộp, chưa qua sử dụng, có giá 1.152.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng);

Tổng cộng: 13.412.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm mười hai nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Hồng L1 yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Ông Võ Trung H2 yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 86/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bằng Thiếu V2, Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Trà Đăng P1 và Trần Thanh L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Bằng Thiếu V2, Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 về tội “Trộm cắp tài sản”; truy tố bị cáo Trà Đăng P1 và Trần Thanh L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Bằng Thiếu V2 và Lê Chí S mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Hoàng C1 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trà Đăng P1 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thanh L với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật;

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị hại bà Nguyễn Hồng L1 yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho hại tất cả tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt theo kết quả định giá của Hội đồng định giá, kể cả các tài sản mà bị hại đã được nhận lại.

Ông Võ Trung H2 yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) và tại phiên tòa bị cáo L tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của ông H2 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Bằng Thiếu V2, Lê Chí S, Phạm Hoàng C1, Trà Đăng P1, Trần Thanh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 06/3/2023, bị cáo Bằng Thiếu V2 cùng với đối tượng tên N1 đã cắt khoen khóa cửa nhà số A B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh rồi lén lút chiếm đoạt 03 cây tán dù, 17 cái ghế, 03 cây quạt công nghiệp của bà Nguyễn Hồng L1. Theo kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự, các tài sản mà bị cáo V2 và đối tượng tên N1 đã chiếm đoạt nêu trên trị giá 2.785.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo V2 còn tham gia cùng với bị cáo Trần Thanh L và đối tượng tên N1 đã đến nhà số A B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm đoạt 03 cây thuốc lá, gồm 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven và 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet trị giá 660.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo V2 tham gia chiếm đoạt là 3.425.000 đồng, hành vi của bị cáo Bằng Thiếu V2 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 và đối tượng tên N1 đã đến nhà số A B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh rồi lén lút chiếm đoạt 06 cái ghế xếp bằng kim loại, 01 máy xịt rửa xe, 01 cây đàn guitar, 01 bộ dụng cụ khoan cầm tay và 01 Tivi hiệu Samsung của bà Nguyễn Hồng L1. Theo kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự, các tài sản mà bị cáo S, C1 và đối tượng tên N1 đã chiếm đoạt trị giá 6.480.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Lê Chí S cùng với đối tượng tên N1 còn lén lút chiếm đoạt 18 cái ghế xếp bằng kim loại, trị giá 990.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo S tham gia chiếm đoạt là 7.470.000 đồng, bị cáo C1 tham gia chiếm đoạt là 6.480.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Chí S và Phạm Hoàng C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Trần Thanh L cùng với đối tượng tên N1 và sau đó có bị cáo V2 tham gia đã đến nhà số A B T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh lén lút chiếm đoạt 03 cây thuốc lá, gồm 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven và 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet với tổng trị giá 660.000 đồng. Do tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng và bị cáo L chưa từng bị bị xử phạt hành chính, cũng như chưa từng bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên chưa đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản".

Mặc dù, bị cáo Trần Thanh L không tham gia cùng với các bị cáo khác và cũng không có hứa hẹn trước với các bị cáo khác (trừ vụ bị cáo cùng tham gia với tên N1 và V2 trộm cắp 03 cây thuốc lá trị giá 660.000 đồng) nhưng bị cáo L biết được chiếc T5 hiệu S2, trị giá 5.000.000 đồng là tài sản do các bị cáo S, C1 và đối tượng tên N1 trộm cắp mà có nhưng bị cáo L đã giúp các bị cáo S, C1 và tên N1 đem tiêu thụ chiếc Tivi nêu trên để được hưởng lợi nên hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Trà Đăng P1 tuy không có hứa hẹn trước với các bị cáo V2, C1, S, L và tên N1 về việc tiêu thu tài sản do phạm tội mà có nhưng bị cáo biết rõ số tài sản mà các bị cáo V2, S, C1, L và tên N1 bán cho bị cáo P1 là tài sản do phạm tội mà có nhưng bị cáo P1 vẫn mua tiêu thụ gồm 37 cái ghế xếp bằng kim loại, 03 cây quạt máy, 01 cây đàn guitar, 01 tivi hiệu Samsung 65 inch, tổng giá trị tài sản mà bị cáo P1 đã tiêu thụ trị giá là 8.350.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết được hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi.

Đối với hành vi của bị cáo V2 và tên N1 là có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, tên N1 là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp lấy kèm cộng lực cắt khen khóa cửa và trộm cắp tài sản. Bị cáo V2 là đồng phạm tích cực, sử dụng xe máy chở tên N1 đi trộm cắp tài sản và chở tài sản đi cất giấu.

Đối với hành vi của bị cáo S, C1 và tên N1 là có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, tên N1 là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp lấy tài sản. Các bị cáo S và C1 là đồng phạm tích cực, tham gia trộm cắp tài sản và chuyển tài sản đi cất giấu.

Các bị cáo Trà Đăng P1 và Trần Trần Thanh L là người thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Phần lớn các bị cáo đều từng bị Tòa án xét xử về nhiều hành vi khác nhau (trừ bị cáo Trần Thanh L) nhưng các bị cáo không biết sửa đổi, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bằng Thiếu V2, Lê Chí S và Trà Đăng P1 đều có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo V2, S và P1 được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Phạm Hoàng C1 và Trần Thanh L phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có một số tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Riêng bị cáo Trần Thanh L là mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo Trần Thanh L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để các bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về khoản tiền thu lợi bất chính: Các bị cáo V2, C1 và S phạm tội chiếm đoạt tài sản nên bị chịu trách nhiệm hình sự và chịu bồi thường thiệt hại nên số tài sản các bị cáo chiếm đoạt được Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo Trà Đăng P1 được hưởng lợi bất chính với số tiền 2.000.000 đồng từ việc bán chiếc Tivi hiệu S2 (mua 1.500.000 đồng, bán 3.500.000 đồng) và tại phiên tòa bị cáo P1 tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và buộc bị cáo nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo Trần Thanh L giúp cho các bị cáo C1, S và tên N1 bán chiếc Tivi hiệu S2 và được tên N1 cho số tiền 1.250.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo L tự nguyện nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và buộc bị cáo L nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[9] Đối với đối tượng N1 chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Giềng Síu M5 khi mua tivi hiệu S2 do Lê Chí S bán lại không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với M5. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng:

01 (một) áo khoác dài tay màu xanh có chữ Gojek; 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xám là trang phục và vật dụng cá nhân của bị cáo Bằng Thiếu V2, tại phiên tòa bị cáo V2 không yêu cầu nhận lại các vật dụng nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 (một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu vàng, trên mặt có chữ Citizen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme C17, số Imei 1: 867366042463817, số Imei 2: 867366042463809 là tài sản cá nhân của Bằng T, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo V2.

01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ-đen, biển số: 54R3-1761, số khung: UM91104045, số máy: FMH104045 do ông Phạm Công B1 đứng tên chủ sở hữu, ông B1 đã bán lại cho người khác không rõ lai lịch, bị cáo và bà Nguyễn Thị L2 khai chiếc xe trên do bà L2 mua lại và không có sử dụng vào việc phạm tội. Xét chiếc xe trên bà L2 có được không rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bà Nguyễn Thị L2.

01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 59M2-635.74, số khung: RLHJK0301NY007767, số máy: JK03E0078432 do Bằng Thiếu Văn đứng tên chủ sở hữu, V2 khai là đứng tên dùm một người phụ nữ tên H3 và H3 đã bán lại cho bà Nguyễn Thị L2. Tuy nhiên không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của bà L2 và bị cáo, Thực tế là tài sản do bị cáo đứng tên chủ sở hữu và sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Remo 3 màu tím, số Imei1: 860202042301276, số I: 860202042301268 là tài sản cá nhân của Trà Đăng P1, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo P1.

Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, số Imei1: 357766075610975, số Imei2: 357767075610793 là tài sản cá nhân của bị cáo Phạm Hoàng C1, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo C1.

Xét 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1174 màu đen, số Imeil: 3531151110475247, số I: 353115116047522 là tài sản cá nhân của bị cáo Lê Chí S, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo S.

Xét 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1010 màu xanh, số Imei: 356005080064735 là tài sản cá nhân của bị cáo Trần Thanh L, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo L.

01 (một) xe máy hiệu Honda Charly, biển số 50AB-6299, số khung: CF502756518, số máy: CF50E2756560 do bà Lê Thị T3 đứng tên chủ sở hữu, bà T3 hiện nay đi đâu không rõ, bị cáo Trà Đăng P1 khai mua của người khác và không sử dụng vào việc phạm tội. Xét chiếc xe bị cáo P1 có được không rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo P1.

01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Dylan, màu đỏ, biển số: 51H1-3460; số khung: ZDCKF05A03F051750; số máy: HIKF03E0046176 do ông Phạm Minh T4 đứng tên chủ sở hữu, ông T4 cho bị cáo Phạm Hoàng C1 sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông T4.

01 (một) áo khoác dài tay màu đen- xanh lá có chữ Gojek; 01 (một) quần kaki màu nâu là trang phục cá nhân của bị cáo Lê Chí S, tại phiên tòa bị cáo S không yêu cầu nhận lại các trang phục nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate, biển số 55N6-2150, số khung: RLCF4EHOAO111028, số máy: F4A517508 và 01 (một) giấy đăng ký xe, biển số: 55N6-2150 mang tên Công ty T6. Chiếc xe và giấy là do Công ty TNHH T6 đứng tên chủ sở hữu, Công ty đã bán lại cho người khác không rõ lai lịch. Xét bị cáo Lê Chí S có được không rõ nguồn gốc và sử dụng vào việc phạm tội nên cần giao cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu trắng- đỏ, biển số: 64G1-144.12, số khung: RLCSE9210FY038799, số máy: E3R7E038802; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 64G1-144.12 mang tên Châu Thị Thu H1. Chiếc xe và giấy đăng ký xe do bà Châu Thị Thu H1 đứng tên chủ sở hữu, hiện bà H1 đi đâu không rõ, bị cáo L khai mua lại của người khác, không có làm thủ tục mua bán. Xét chiếc xe bị cáo Trần Thanh L có được không rõ nguồn gốc và không sử dụng vào việc phạm tội nên cần giao cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo L.

01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78, số khung: RLHKF4100MZ625772, số máy: KF41E0166590 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số: 64G1-389.78 do bị cáo Trần Thanh L đứng tên chủ sở hữu, bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 (một) xe gắn máy dạng Wave, biển số 52T5-7535, số khung: VTTDCH0A4TT182720, số máy: VTT1P52FMH182720 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 52T5-7535 do bà Lưu Bích V1 đứng tên chủ sở hữu, bà V1 đã cho người bạn, ông Trần Thanh L3 khai chiếc xe trên là tài sản của ông mua, khi Cơ quan Công an bắt bị cáo Trần Thanh L có thu giữ chiếc xe trên của ông, không liên quan đến việc phạm tội. Xét chiếc xe trên ông L3 có được chưa rõ nguồn gốc nên cần giao Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho ông L3.

01 (một) Tivi nhãn hiệu Samsung, 65 inch (không nhớ M6); 01 (một) két thu ngân màu đen (không có nhãn hiệu); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu trắng xanh; 01 (một) máy xịt rửa xe màu đen (nhãn hiệu So Easy, không nhớ Model); 03 (ba) thân và tán dù loại lệch tâm, thân và vải dù màu đen, tân đủ rộng khoảng 2,5m, cao khoảng 2,5m; 01 (một) thùng đồ nghề máy khoan, hộp nhựa màu đen, máy khoan cầm tay thân màu đỏ, trên thân có chữ DIY (không nhớ Model); 20 (hai mươi) cái ghế xếp bằng kim loại, có thân sơn màu đen; 40 (bốn mươi) cái ghế xếp bằng Inox; 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven; 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet;18 (mười tám) hộp sữa Vinamilk P, hộp giấy màu xanh lá cây, có chữ Southern Star, trọng lượng 1284 gam/hộp. Xét số tài sản trên là tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt không thu hồi được, trừ 37 (ba mươi bảy) cái ghế xếp bằng kim loại; 01 (một) cây quạt đứng nhãn hiệu Lifan màu đen, cao khoảng 1,4m; 01 (một) quạt đứng nhãn hiệu Ching Hai Tai Wan màu đen, cánh quạt màu đỏ cao 1,2m; 01 (một) cây quạt công nghiệp màu đen, model Đ-24CX, cao khoảng 1,8m; 01 (một) cây đàn guitar bằng gỗ thì Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và đã trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Hồng L1 yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chứng minh được bị cáo Bằng Thiếu V2 và tên N1 đã chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Hồng L1, gồm: 03 cây tán dù, 17 cái ghế, 03 cây quạt công nghiệp, có tổng trị giá 2.785.000 đồng. Do hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa bắt được N1 nên cần buộc bị cáo V2 phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại với số tiền nêu trên.

Bị cáo Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 và tên N1 đã chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Hồng L1, gồm: 06 cái ghế xếp bằng kim loại, 01 máy xịt rửa xe, 01 cây đàn guitar, 01 bộ dụng cụ khoan cầm tay và 01 Tivi hiệu S2, có tổng trị giá 6.480.000 đồng. Do hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa bắt được N1 nên cần buộc các bị cáo S và C1 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại với số tiền nêu trên. Mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 3.240.000 đồng.

Bị cáo Lê Chí S cùng với tên N1 đã chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Hồng L1, gồm: 18 cái ghế xếp bằng kim loại, có tổng trị giá 990.000 đồng. Do hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa bắt được N1 nên cần buộc bị cáo S có trách nhiệm bồi thường cho bị hại với số tiền nêu trên.

Bị cáo Trần Thanh L và Bằng Thiếu V2 cùng tên N1 đã chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Hồng L1 03 cây thuốc lá, gồm 02 (hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Craven và 01 (một) cây thuốc lá nhãn hiệu Jet với tổng trị giá 660.000 đồng. Mặc dù hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L nhưng về trách nhiệm dân sự các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường. Do hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa bắt được N1 nên Hội đồng xét xử cần buộc các bị cáo L và V2 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại với số tiền 660.000 đồng. Mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 330.000 đồng.

Ông Võ Trung H2 yêu cầu bị cáo Trần Thanh L bồi thường thiệt hại số tiền 25.000.000 đồng do đã cầm cố đối với xe gắn máy, biển số: 64G1-389.78. Tại phiên tòa, bị cáo L tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Võ Trung H2. Xét đây là sự tự nguyện bồi thường của bị cáo L, là sự tự thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Bị cáo Bằng Thiếu V2 còn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường là 2.785.000 đồng + 330.000 đồng = 3.115.000 đồng theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Bị cáo Lê Chí S còn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường là 3.240.000 đồng + 990.000 đồng = 4.230.000 đồng theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Bị cáo Phạm Hoàng C1 còn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường là 3.240.000 đồng theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Bị cáo Trần Thanh L còn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường là 25.000.000 đồng + 330.000 đồng = 25.330.000 đồng theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo B2 Thiếu Văn 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Lê Chí S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng C1 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ Khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trà Đăng P1 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ Khoản 1 Điều 323; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Thanh L 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Bằng Thiếu V2 bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Hồng L1 số tiền 2.785.000 đồng (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lê Chí S, Phạm Hoàng C1 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng L1 số tiền 6.480.000 đồng (sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Cụ thể, mỗi bị cáo S và C1 phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng L1 số tiền 3.240.000 đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lê Chí S bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng L1 số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Trần Thanh L và Bằng Thiếu V2 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng L1 số tiền 660.000 đồng (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Cụ thể, mỗi bị cáo L, V2 bồi thường cho bị hại Nguyễn Hồng L1 số tiền 330.000 đồng (ba trăm ba mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Trần Thanh L bồi thường cho ông Võ Trung H2 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại bà Nguyễn Hồng L1, ông Võ Trung H2 có đơn yêu cầu thi hành án mà các bị cáo có trách nhiệm bồi thường mà không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng trên số tiền mà các bị cáo phải chịu bồi thường.

Căn cứ điểm a, b Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, b, c Khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trà Đăng P1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Trần Thanh L nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh có chữ Gojek; 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xám; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen- xanh lá có chữ Gojek; 01 (một) quần kaki màu nâu.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 59M2-635.74, số khung: RLHJK0301NY007767, số máy: JK03E0078432; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số: 64G1-389.78, số khung: RLHKF4100MZ625772, số máy: KF41E0166590 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số: 64G1-389.78.

Trả lại cho bị cáo B2 Thiếu Văn: 01 (một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu vàng, trên mặt có chữ Citizen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme C17, số Imei 1: 867366042463817, số Imei 2: 867366042463809.

Trả lại cho bị cáo Trà Đăng P1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Remo 3 màu tím, số Imeil: 860202042301276, số I: 860202042301268.

Trả lại cho ông Phạm Minh T4: 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Dylan, màu đỏ, biển số: 51H1-3460; số khung: ZDCKF05A03F051750; số máy: HIKF03E0046176.

Trả lại cho bị cáo Phạm Hoàng C1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, số Imei1: 357766075610975, số I: 357767075610793.

Trả lại cho bị cáo Lê Chí S: 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1174 màu đen, số Imei1: 3531151110475247, số I: 353115116047522.

Trả lại cho bị cáo Trần Thanh L: 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1010 màu xanh, số I: 356005080064735.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe máy hiệu Honda Charly, biển số 50AB-6299, số khung: CF502756518, số máy: CF50E2756560 trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo Trà Đăng P1.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy dạng Wave, biển số 52T5-7535, số khung: VTTDCH0A4TT182720, số máy: VTT1P52FMH182720 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 52T5-7535 trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho ông Trần Thanh L3.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu trắng- đỏ, biển số: 64G1-144.12, số khung: RLCSE9210FY038799, số máy: E3R7E038802 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 64G1-144.12 mang tên Châu Thị Thu H1 trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho Trần Thanh L.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy, nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ-đen, biển số: 54R3-1761, số khung: UM91104045, số máy: FMH104045 trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho bà Nguyễn Thị L2.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate, biển số 55N6-2150, số khung: RLCF4EHOAO111028, số máy: F4A517508 và 01 (một) giấy đăng ký xe, biển số: 55N6-2150 mang tên Công ty T6 trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu điện tử trích xuất từ camera ghi nhận nội dung liên quan (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Bằng Thiếu V2, Lê Chí S và Phạm Hoàng C1, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Thanh L phải chịu 1.266.500 đồng (một triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bằng Thiếu V và đồng phạm-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger