TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-07-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Kim Thảo
- Ông Phan Văn Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thanh H, sinh năm: 1980
- Bị đơn: Trương Thanh N, sinh năm: 1978
Địa chỉ: Tổ B, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ B, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2024 nguyên đơn bà Phạm Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Trương Thanh N kết hôn năm 1998, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 13/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bất đồng về tiền bạc nên vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông N nên yêu cầu được ly hôn với ông N.
- Về con chung: có hai con chung tên Trương Thị Huỳnh N1, sinh ngày 23/3/2001 và Trương Quỳnh A, sinh ngày 17/12/2009. Cháu Huỳnh N1 đã thành niên, bà H yêu cầu được nuôi cháu Quỳnh A, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tòa án triệu tập bị đơn ông Trương Thanh N nhưng ông Trương Thanh N vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại bản trình bày nguyện vọng của con chung cháu Trương Quỳnh A trình bày nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
* Tại phiên tòa:
- Bà Phạm Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Ông Trương Thanh N trình bày ý kiến đồng ý yêu cầu ly hôn của bà H, đồng ý để bà H nuôi cháu Trương Quỳnh A, ông không cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung ông và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Phạm Thanh H được quyền ly hôn ông Trương Thanh N, bà Phạm Thanh H được quyền nuôi con chung tên Trương Quỳnh A, sinh ngày 17/12/2009, ông Trương Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Phạm Thanh H và ông Trương Thanh N là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: ông Trương Thanh N đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: nguyên đơn bà Phạm Thanh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Phạm Thanh H và ông Trương Thanh N sống chung từ năm 1998, kết hôn năm 2010, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 13/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Phạm Thanh H và ông Trương Thanh N được đoàn tụ, nhưng bà Phạm Thanh H cương quyết ly hôn và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa ông Trương Thanh N cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Phạm Thanh H. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thanh H.
2.2 Về con chung: bà Phạm Thanh H và ông Trương Thanh N có hai con chung tên Trương Thị Huỳnh N1, sinh ngày 23/3/2001 và Trương Quỳnh A, sinh ngày 17/12/2009. Bà Phạm Thanh H có yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn, ông Trương Thanh N đồng ý để bà H được quyền nuôi con chung, cháu Trương Thị Huỳnh N1 đã thành niên, còn cháu Trương Quỳnh A có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Nhận thấy hiện cháu Trương Quỳnh A còn nhỏ để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến việc học của cháu, cũng như xem xét nguyện vọng của các cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thanh H được quyền nuôi con chung.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Phạm Thanh H không yêu cầu ông Trương Thanh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Trương Thanh N.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Phạm Thanh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thanh H.
- Về hôn nhân: bà Phạm Thanh H được ly hôn ông Trương Thanh N.
- Về con chung: bà Phạm Thanh H được quyền nuôi con chung tên Trương Quỳnh A, sinh ngày 17/12/2009.
Ông Trương Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí sơ thẩm: bà Phạm Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004640 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: ông Trương Thanh N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/7/2024). Bà Phạm Thanh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
