TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày 21-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia
Bà Trần Thị Yến Nhi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Ngọc Thanh T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Phùng Ngọc B, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị B1, sinh năm 1962; Vợ: Trương Thị V, sinh năm 1986; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: 02 tiền án: Tại bản án số 02/2021/HS-ST ngày 23/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 27/2023/HS-ST ngày 17/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 24/2005/HS-ST; Ngày 28/6/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 391/2006/HS-ST; Ngày 19/8/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm đồng khởi tố bị can về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
- Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1986.(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1988.(Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 28/5/2024, Phùng Ngọc Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 67T3-3379 đi đến khu vực xã P, huyện T với mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi qua nhà anh Nguyễn Minh S thuộc ấp B, xã P, huyện T thì thấy trước sân nhà anh S có sắt để trên sân không có người trông coi nên T lén lút đi vào lấy trộm 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm; 01 cục sắt đặc dài 46cm, đường kính 08cm và 01 thanh sắt vuông dài 80cm rồi dùng xe mô tô biển số 67T3-3379 chở ra tiệm ve chai để bán, khi đi ngang qua tiệm sắt của anh Đặng Văn T1 ở ấp B, xã P, huyện T thấy không có người trông coi nên T lén lút đi vào lấy trộm của anh T1 01 cây búa hình chữ T thì bị anh T1 phát hiện tri hô cùng người dân bắt giữ và giao cho Công an xã P, huyện T. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 28/5/2024 của Trạm y tế xã P xác định Phùng Ngọc Thanh T dương tính với ma túy đá.
Vật chứng thu giữ: 01 cây búa hình chữ T, cán bằng sắt tròn dài 50cm, phần búa dài 17cm, đường kính 08cm, có trọng lượng 09kg; 01 cục sắt đặc dài 46cm đường kính 08cm, có trọng lương 18kg; 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm, có trọng lương 21kg; 01 thanh sắt vuông dài 80cm, rộng 4,8cm, trọng lượng 04kg; 01 xe mô tô biển số 67T3-3379.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 cây búa hình chữ T, cán bằng sắt tròn dài 50cm, nặng 09kg; đã qua sử dụng có giá trị 72.000 đồng (Bảy mươi hai nghìn đồng).
- 01 cục sắt đặc dài 46cm đường kính 08cm, nặng 18kg; đã qua sử dụng có giá trị 144.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).
- 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm, nặng 21kg; đã qua sử dụng có giá trị 168.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám ngàn đồng).
- 01 thanh sắt vuông dài 80cm, rộng 4,8cm, nặng 04kg; đã qua sử dụng có giá trị 28.000 đồng (Hai mươi tám ngàn đồng).
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 412.000 đồng (Bốn trăm mười hai nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSTP-ĐN ngày 26 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Phùng Ngọc Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Ngọc Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phùng Ngọc Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đối với 01 cây búa hình chữ T, cán bằng sắt tròn dài 50cm, nặng 09kg; 01 cục sắt đặc dài 46cm đường kính 08cm, nặng 18kg; 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm, nặng 21kg và 01 thanh sắt vuông dài 80cm, rộng 4,8cm, nặng 04kg. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh chủ sở hữu. Anh Nguyễn Minh S, Đặng Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Phùng Ngọc Thanh T bồi thường về dân sự.
Đối với xe mô tô biển số 67T3-3379, quá trình điều tra xác định Phùng Ngọc Thanh T trộm cắp tại chùa P ở phường B' Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, chuyển vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra theo thẩm quyền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Phùng Ngọc Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 28/5/2024, tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phùng Ngọc Thanh T đã lén lút trộm cắp 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm; 01 cục sắt đặc dài 46cm, đường kính 08cm, 01 thanh sắt vuông dài 80cm của anh Nguyễn Minh S và 01 cây búa hình chữ T, cán bằng sắt tròn dài 50cm, phần búa dài 17cm, đường kính 08cm của anh Đặng Văn T1 thì bị anh Đặng Văn T1 bắt giữ giao cho Công an xã P, huyện T. Tổng giá trị tài sản Phùng Ngọc Thanh T trộm cắp là 412.000 đồng. Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo Phùng Ngọc Thanh T đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phùng Ngọc Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương.
[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo Phùng Ngọc Thanh T là đối tượng nghiện ma túy, đã 04 lần lần bị đưa ra xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong đó có 02 lần chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngoài ra ngày 19/8/2024, bị cáo còn bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng khởi tố bị can về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về Biện pháp tư pháp:
- Anh Nguyễn Minh S, Đặng Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
- Đối với xe mô tô biển số 67T3-3379, quá trình điều tra xác định bị cáo Phùng Ngọc Thanh T trộm cắp tại chùa P ở phường B' Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, chuyển vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[8] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phùng Ngọc Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phùng Ngọc Thanh T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phùng Ngọc Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuân |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 28/5/2024, tại ấp B, xã Ph, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phùng Ngọc Thanh T đã lén lút trộm cắp 01 cục sắt đặc dài 55cm, đường kính 08cm; 01 cục sắt đặc dài 46cm, đường kính 08cm, 01 thanh sắt vuông dài 80cm của anh Nguyễn Minh S và 01 cây búa hình chữ T, cán bằng sắt tròn dài 50cm, phần búa dài 17cm, đường kính 08cm của anh Đặng Văn T thì bị anh Đặng Văn T bắt giữ giao cho Công an xã Ph, huyện T. Tổng giá trị tài sản Phùng Ngọc Thanh T trộm cắp là 412.000 đồng.
