Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/DS-ST

Ngày: 16-12-2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Dương Sinh Huy
  • 2. Ông Trần Hoàng Giang

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phấn – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST –DS, ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • 1.1 Bà Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1953; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (vắng mặt).
  • 1.2 Ông Lê Trung T, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Trung N, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1 Bà Lê Thanh T1, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú khóm F, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp G, xã C, tỉnh Vĩnh Long) (vắng mặt).
  • 3.2 Bà Lê Thanh T2, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (vắng mặt).
  • 3.3 Ông Lê Thanh T3, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp V, xã L, tỉnh Vĩnh Long) (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ê, bà Lê Thanh T1, bà Lê Thanh T2 và ông Lê Thanh T3 là ông Lê Trung T (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 22/10/2024).

  • 3.4 Ông Lê Trung T4, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).
  • 3.5 Bà Phạm Khánh L, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/12/2024; đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T trình bày: Nguyên trước đây, ông Lê Văn T5 (chết) là chồng của bà Ê và là cha của ông T là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 4, tờ bản đồ số 0006, diện tích 1470,0 m², loại đất trồng cây lâu năm toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).

Thửa đất số 4 của ông T5 giáp trực tiếp với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 5, diện tích 2000 m², loại đất chuyên trồng lúa nước toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) của ông N.

Trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2000, trong quá trình sử dụng đất ông N đã sử dụng và lấn chiếm qua thửa đất số 4 của ông T5 phần đất diện tích khoảng 120 m² (ngang 03 mét, dài 40 mét).

Ngày 15/7/2021 ông T5 chết. Sau khi ông T5 chết, những người thừa kế của ông T5 lập thủ tục thừa kế đối với thửa đất số 4 thì có tranh chấp với ông N nên không thực hiện thủ tục thừa kế được.

Đến ngày 31/12/2024, bà Ê và ông T khởi kiện ông N yêu cầu trả phần đất tranh chấp khoảng 120 m².

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, phía gia đình ông N đã liên hệ thoả thuận nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp với phía bà Ê, với giá là 30.000.000 đồng và đã thanh toán số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, bà Ê và ông T đã rút đơn kiện và Toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, sau khi đình chỉ vụ án thì phía ông N không thực hiện đúng thoả thuận là thanh toán số tiền 20.000.000 đồng còn lại.

Vì vậy, nay bà Ê và ông T khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 4 của phía nguyên đơn và yêu cầu ông N, ông T4 và bà Khánh L có nghĩa vụ trả lại cho bà Ê và ông T phần đất tranh chấp diện tích 120 m² thuộc thửa đất số 4.

Về tài sản trên đất: Hiện nay ông N có trồng 07 cây Dừa và 01 cây Mít. Bà Ê và ông T yêu cầu ông N, ông T4 và bà Khánh L di dời toàn bộ cây trồng ra khởi phần đất tranh chấp, bà Ê và ông T không hỗ trợ chi phí di dời.

Bà Ê và ông T tự nguyện trả lại cho phía ông N số tiền 10.000.000 đồng.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/8/2025 và tại phiên Toà, bà Ê và ông T yêu cầu ông N, ông T4 và bà Khánh L có nghĩa vụ trả lại cho bà Ê và ông T phần đất tranh chấp diện tích 247,2 m² thuộc thửa đất số 4 (theo diện tích đo đạc thực tế). Đối với số tiền 10.000.000 đồng, ông T và ông T4 thoả thuận sau khi khấu trừ số tiền ông T4 nợ ông T thì ông T có nghĩa vụ trả lại cho ông T4 số tiền 7.000.000 đồng và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày 16/12/2025 ông T sẽ trả đủ tiền cho ông T4 và các bên tự thực hiện với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và biên bản hòa giải các ngày 12/02/2025; 11/9/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Trung N trình bày:

Ông N xác định thửa đất số 50 của ông giáp với thửa đất số 4 của phía nguyên đơn và hiện nay trên phần đất tranh chấp ông có trồng 07 cây Dừa khoảng 02 năm tuổi và 01 cây Mít là đúng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, ông N cho rằng trong quá trình sử dụng đất ông không có lấn chiếm đất của phía nguyên đơn nên ông không đồng ý trả đất cho nguyên đơn. Trường hợp Toà án công nhận phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 4 của phía nguyên đơn thì phần cây trồng của ông có trên phần đất tranh chấp ông sẽ tự di dời và không yêu cầu bồi thường.

Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và biên bản hòa giải ngày 12/02/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L trình bày:

Ông T4 và bà Khánh L thống nhất với ý kiến của ông N và không có yêu cầu độc lập. Riêng đối với số tiền 10.000.000 đồng mà ông T đã nhận của ông T4 ngày 09/12/2024 thì ông T4 thống nhất với ý kiến của ông T và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng, Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tài sản của bị đơn có trên phần đất tranh chấp thì công nhận cho nguyên đơn được quyền sở hữu và buộc nguyên đơn phải bồi thường giá trị cây trồng cho bị đơn. Về chi phí tố tụng và án phí buộc các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự tranh chấp quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai; bị đơn ông N có nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) và thửa đất tranh chấp tọa lạc tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26 và các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại Trích đo bản đồ địa chính khu đất ký ngày 23/4/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M (cũ) đã xác định:

1. Phần đất tranh chấp của nguyên đơn và bị đơn xác định:

- Thửa số 163(4-2), tờ bản đồ số 11(6), có diện tích 247,2 m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, gồm các mốc:1,2,14,10,11,12,13,1. Người sử dụng Ông Lê Văn T5 (chết) GCN QSDĐ số A825084, số vào sổ 16508, ngày cấp 07/11/1991.

+ Xác định diện tích theo xác định ranh của nguyên đơn và bị đơn với GCNQSDĐ, thửa 229(4-1)+163-2(4-2)....tăng 123,6 m²là do đo đạc xác định lại ranh với chủ giáp cận.

+ Xác định diện tích theo xác định ranh của nguyên đơn và bị đơn với GCNQSDĐ, thửa 163-1(50)....giảm 259,4m²là do đo đạc xác định lại ranh với chủ giáp cận.

Như vậy, có căn cứ xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 4, tờ bản đồ số 6 của nguyên đơn nên xét việc nguyên đơn bà Ê và ông T yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 4 và bị đơn ông N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T4 và bà Khánh L có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn phần đất 247,2 m² thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 0006, diện tích 1470,0 m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long, đất do ông Lê Văn T5 (chết) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại các Điều 166; 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Về tài sản trên đất: Hiện nay trên phần đất tranh chấp tài sản gồm có: 10 cây Dừa, 01 cây Mít, 01 cây Xà Cừ, 01 cây Bạch Đàn và 01 bụi Tầm Vong 04 cây. Trong đó, bị đơn ông N trồng 07 cây Dừa và 01 cây Mít. Xét cần giao toàn bộ tài sản của bị đơn có trên phần đất tranh chấp cho nguyên đơn được quyền sở hữu và buộc nguyên đơn có nghĩa vụ bồi thường cho bị đơn giá trị cây trồng gồm: 07 cây Dừa và 01 cây Mít số tiền 4.890.000 đồng là có căn cứ và phù hợp quy dịnh pháp luật.

[2.2] Đối với số tiền 10.000.000 đồng mà ông T đã nhận của ông T4, theo biên nhận ngày 09/12/2024. Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[2.3] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.4] Về chi phí tố tụng: Buộc ông N, ông T4 và bà Khánh L phải chịu số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ, đo đạc và định giá. Bà Ê và ông T đã nộp tạm ứng đủ số tiền 5.000.000 đồng được khấu trừ; như vậy buộc ông N, ông T4 và bà Khánh L phải nộp lại số tiền 5.000.000 đồng để hoàn trả cho bà Ê và ông T.

[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N và bà Ê là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí và án phí nên được miễn tạm ứng án phí và án phí. Riêng các đương sự còn lại phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 144; 147; 157; 161và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 166; 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 236 của Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 14; Điều 24 và Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T.
    1. Buộc ông Lê Trung N, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T phần đất tranh chấp diện tích 247,2 m² (chiết thửa 163-2(4-2) thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 11(6), diện tích 1470,0 m², loại dất trồng cây lâu năm toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long), đất do ông Lê Văn T5 (chết) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Vị trí, hình thể phần đất tranh chấp diện tích 247,2 m² thuộc thửa số 4 ông Lê Trung N, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T gồm các mốc:1,2,14,10,11,12,13,1.

      (Kèm theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M ký ngày 23/4/2025).

    2. Về tài sản trên đất: Công nhận cho bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T được quyền sở hữu toàn bộ tài sản gồm: 10 cây Dừa, 01 cây Mít, 01 cây Xà Cừ, 01 cây Bạch Đàn và 01 bụi Tầm Vong 04 cây, có trên phần tranh chấp đất tranh chấp diện tích 247,2 m² thuộc thửa đất số 4.

      Buộc bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Lê Trung N, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L giá trị cây trồng số tiền 4.890.000 đồng (bốn triệu tám trăm chín chục ngàn đồng).

  2. Đối với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) mà ông Lê Trung T đã nhận của ông Lê Trung T4, theo biên nhận ngày 09/12/2024. Các đương sự tự thoả thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Trung N, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L phải chịu số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chổ, đo đạc và định giá. Bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T đã nộp tạm ứng đủ số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) được khấu trừ; như vậy buộc ông Lê Trung N, ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L phải nộp lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ê và ông Lê Trung T.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Lê Trung N và bà Nguyễn Thị Ê là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí và án phí nên được miễn tạm ứng án phí và án phí.
    2. Buộc ông Lê Trung T phải chịu số tiền 150.000 đồng (một trăm năm chục ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) theo các biên lai thu tiền số 0006179; 0006180 cùng ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Vĩnh Long) và biên lai thu tiền số 0001796 ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Vĩnh Long (ghi Họ và tên người nộp tiền: Lê Trung T. Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long); như vậy ông Lê Trung T được nhận lại số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm chục ngàn đồng).
    3. Buộc ông Lê Trung T4 và bà Phạm Khánh L mỗi người phải chịu số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND khu vực 2 – Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS khu vực 2- Vĩnh Long;
  • - Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Tấn Đồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 15 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2020.

Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Mang Thít

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân :

  • 1/ Ông Huỳnh Văn Thanh
  • 2/ Ông Dương Sinh Huy

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 70/2019/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019.về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST –DS, ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • 1.1 Bà Phạm Thị Thảo, sinh năm 1960
  • 1.2 Ông Nguyễn Hoàng Minh, sinh năm 1955

Cùng địa chỉ cư trú ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị Thảo là ông Nguyễn Hoàng Minh (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngàn, sinh năm 1952; địa chỉ cư trú ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1 Anh Nguyễn Phước Lợi, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Phước Lợi là ông Nguyễn Hoàng Minh (có mặt)

  • 3.2 Chị Võ Thùy Dương, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  • 3.3 Anh Võ Chí Tâm, sinh năm 1985 (có mặt)

Cùng địa chỉ cư trú ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Ý kiến thảo luận của Hội thẩm ông Huỳnh Văn Thanh:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai; bị đơn bà Ngàn có nơi cư trú tại xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và phần đất tranh chấp tọa lạc tại xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng chị Võ Thùy Dương đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Võ Thùy Dương là đúng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Thửa đất số 792 của bà Thảo và ông Minh là cấp cho hộ bà Thảo và hộ bà Thảo gồm có: Bà Thảo, ông Minh, anh Lợi và chị Nguyễn Thị Trúc Mai. Hiện nay chị Nguyễn Thị Trúc Mai đang sinh sống tại Houston, Hoa Kỳ; lẽ ra phải đưa chị Nguyễn Thị Trúc Mai vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và phải chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long giải quyết. Nhưng xét tại các Giấy ủy quyền ngày 07/12/2016 và ngày 31/10/2019 của chị Trúc Mai ủy quyền cho bà Thảo có nội dung:

“Bà Phạm Thị Thảo được toàn quyền thay mặt tôi xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với các thửa đất sau:

+ Thửa đất số 792, tờ bản đồ số 5, diện tích 2198,6 m², mục đích sử dụng: Đất ở 300,0 m², Đất trồng cây lâu năm 1898,6 m², tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và tài sản gắn liền trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 356176, số vào sổ CH00472 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Thít cấp ngày 10/12/2012 cho hộ bà Phạm Thị Thảo.

+ Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 5, diện tích 1145,3 m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và tài sản gắn liền trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 509212, số vào sổ CH00521 do Ủy ban nhân dân huyện Mang Thít cấp ngày 09/11/2013 cho bà Phạm Thị Thảo.

Thời hạn ủy quyền là 10 năm (mười năm) kể từ ngày 31/10/2019 đến ngày 31/10/2029.

Ủy quyền này không được hủy ngang đến hết thời gian ủy quyền.

Bà Phạm Thị Thảo được ủy quyền cho tất cả mọi người thực hiện các giao dịch cũng như giải quyết tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên”

Do đó, không cần thiết phải đưa chị Nguyễn Thị Trúc Mai vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và Tòa án nhân dân huyện Mang Thít vẫn tiến hành giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét; việc bà Ngàn cho rằng khi bà Thảo và ông Minh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hai bên có thỏa thuận ký tứ cận và có cấm các mốc giới. Tuy nhiên, vào ngày 09/10/2019 Tòa án tiến hành xem xét thực tế hiện trạng các thửa đất số 792, 778 của bà Thảo và ông Minh và thửa đất số 330 của bà Ngàn thì các mốc giới không còn. Đồng thời, bà Ngàn còn cho rằng phần đất tranh chấp (diện tích đo đạc thực tế là 83,3 m²) thuộc thửa đất số 330 của bà, nhưng bà Ngàn không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 330 của bà. Ngoài ra, cũng vào ngày 09/10/2019 Tòa án có kết hợp cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành xem xét thẩm định tại chổ và đo đạc các thửa đất số 792, 778 của bà Thảo và ông Minh và thửa đất số 330 của bà Ngàn để làm căn cứ giải quyết vụ án, nhưng bà Ngàn không hợp tác, không đồng ý cho đo đạc thửa đất số 330 của bà nên chỉ đo đạc được các thửa đất số 792 và 778 của bà Thảo và ông Minh. Tại công văn số:34/TNMT ngày 04/02/2020 của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Mang Thít xác định: Do bị đơn bà Ngàn không đồng ý khảo sát đo đạc thửa đất số 330 (thửa mới 29) nên Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Mang Thít không đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa nào do ai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do bà Ngàn không hợp tác, không đồng ý cho khảo sát đo đạc thửa đất số 330 của bà để làm cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai nên bà Ngàn phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 6; 70; 91 và Điều 101 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những lý do trên, xét việc bà Thảo và ông Minh yêu cầu công nhận cho ông bà được quyền sử dụng phần tranh chấp 70,3 m² thuộc thửa đất số 792, đất do hộ bà Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất 13 m² thuộc thửa đất số 778, đất do bà Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và yêu cầu hộ bà Ngàn phải trả lại cho ông bà phần đất phần tranh chấp 70,3 m² thuộc thửa đất số 792 và phần đất 13 m² thuộc thửa đất số 778 là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

[2.2] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.4] Về chi phí tố tụng: Buộc hộ bà Ngàn phải chịu số tiền 3.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ và đo đạc. Bà Thảo và ông Minh đã nộp tạm ứng đủ số tiền 3.500.000 đồng được khấu trừ; như vậy buộc bộ bà Ngàn phải nộp lại số tiền 3.500.000 đồng để hoàn trả cho bà Thảo và ông Minh.

[2.4] Về án phí: Bà Ngàn là người cao tuổi, là đối tượng được miễn án phí nhưng bà Ngàn không có đơn xin miễn án phí nên buộc hộ bà Ngàn phải chịu số tiền 830.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (lấy giá đất là 200.000 đồng/m² làm căn cứ tính tiền án phí).

Bà Thảo được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Hội thẩm Dương Sinh Huy thống nhất với ý kiến thảo luận của Hội thẩm Huỳnh Văn Thanh.

Ý kiến chủ tọa, thống nhất với ý kiến thảo luận của hai vị Hội thẩm, bổ sung quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu theo Luật Thi hành án dân sự, quy định về quyền kháng cáo theo luật định cho các đương sự.

Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất 3/3 (đạt 100%) quyết định các vấn đề cần giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ vào các Điều 157; 161; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào các Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 24 và khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thảo và ông Nguyễn Hoàng Minh.
    1. Công nhận cho hộ bà Phạm Thị Thảo được quyền sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 70,3 m² thuộc thửa đất số 792, tờ bản đồ số 5, diện tích 2198,6 m² (diện tích đo đạc thực tế là 2335,6 m²), loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, đất do hộ bà Phạm Thị Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất diện tích 70,3 m² thuộc thửa đất số 792 hộ bà Phạm Thị Thảo được quyền sử dụng gồm các mốc: 12,13,14,15,16,12.
    2. Công nhận cho bà Phạm Thị Thảo được quyền sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 13,0 m² thuộc thửa đất số 778, tờ bản đồ số 5, diện tích 1145,3 m² (diện tích đo đạc thực tế là 1244 m²), loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, đất do bà Phạm Thị Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất diện tích 13,0 m² thuộc thửa đất số 778 bà Phạm Thị Thảo được quyền sử dụng gồm các mốc: 10,11,12,13,10.
    3. Buộc hộ bà Nguyễn Thị Ngàn (gồm bà Nguyễn Thị Ngàn, chị Võ Thùy Dương và anh Võ Chí Tâm) phải trả lại cho hộ bà Phạm Thị Thảo phần đất tranh chấp diện tích 70,3 m² thuộc thửa đất số 792, tờ bản đồ số 5, diện tích 2198,6 m² (diện tích đo đạc thực tế là 2335,6 m²), loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, đất do hộ bà Phạm Thị Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất diện tích 70,3 m² hộ bà Nguyễn Thị Ngàn phải trả lại cho hộ bà Phạm Thị Thảo gồm các mốc: 12,13,14,15,16,12.
    4. Buộc hộ bà Nguyễn Thị Ngàn (gồm bà Nguyễn Thị Ngàn, chị Võ Thùy Dương và anh Võ Chí Tâm) phải trả lại cho bà Phạm Thị Thảo phần đất tranh chấp diện tích 13,0 m² thuộc thửa đất số 778, tờ bản đồ số 5, diện tích 1145,3 m² (diện tích đo đạc thực tế là 1244 m²), loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp Thanh Phong, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, đất do bà Phạm Thị Thảo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất diện tích 13,0 m² hộ bà Nguyễn Thị Ngàn phải trả lại cho bà Phạm Thị Thảo gồm các mốc: 10,11,12,13,10.

      (Kèm theo Trích đo bản đồ hiện trạng khu đất do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mang Thít ký ngày 04/02/2020)

      Hộ bà Phạm Thị Thảo có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc hộ bà Nguyễn Thị Ngàn phải chịu số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chổ và đo đạc. Bà Phạm Thị Thảo và ông Nguyễn Hoàng Minh đã nộp tạm ứng đủ số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) được khấu trừ; như vậy buộc bộ bà Nguyễn Thị Ngàn phải nộp lại số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) để hoàn trả cho bà Phạm Thị Thảo và ông Nguyễn Hoàng Minh.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc hộ bà Nguyễn Thị Ngàn phải chịu số tiền 830.000 đồng (tám trăm ba chục ngàn đồng)

    Bà Phạm Thị Thảo được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) theo các biên lai thu tiền số 0007120 ngày 01/7/2019; số 0007236 ngày 19/9/2019; số 0007425 ngày 12/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Biên bản nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 35 phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/DS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 107/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger