Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 107/2024/HSST

Ngày 29-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Sơn

2. Ông Huỳnh Thiện Khiêm – Bí thư huyện Đoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn Đ; sinh ngày 06 tháng 01 năm 2007, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Bé L; vợ, con chưa có; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02-9-2024; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Lê Văn T, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Bé L, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; mẹ bị cáo; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

- Bà Trần Thị Cẩm V, Trợ giúp viên pháp lý, theo Quyết định số: 265/QĐ/TTTGPL ngày 29-8-2024 của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.

- Ông Nguyễn Thế T1 – Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.

Bị hại: Văn Phước H, sinh năm 2007; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Văn Phước T2, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; cha của bị hai; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1964; nơi cư trú: nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghi ngờ chị Âu Diễm K sinh năm 2007 (là bạn gái của Lê Văn Đ) đang đi chơi cùng với anh Văn Phước H; khoảng 20 giờ ngày 31/5/2024, Lê Văn Đ mang theo 01 dao tự chế bằng kim loại, màu đen, mũi nhọn (chiều dài 50cm, cán dao dài 15cm, lưỡi dao dài 35cm, nơi rộng nhất của lưỡi 06cm, nơi nhỏ nhất của lưỡi 03cm) và điều khiển xe môtô biển số 70D1-739.18 đi tìm chị K. Khi đi đến khu vực ấp thuộc ấp L, xã L, huyện B thì gặp H điều khiển xe môtô biển số 70D1-61.113 chở chị K ngồi phía sau. Lúc này, Đ điều khiển xe vượt lên song song bên phải thì H dùng chân đạp vào chân của Đ làm cho xe của Đ bị chao đảo, Đ tiếp tục điều khiển xe vượt lên chạy song song bên trái cách xe của H khoảng 01 mét, cầm dao bằng tay phải chém 01 cái từ trên xuống trúng vào mu bàn tay trái của H gây thương tích rồi bỏ chạy về nhà, trên đường đi Đ vứt bỏ dao tự chế cặp lề đường. H được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện C đến ngày 04/6/2024 thì xuất viện. Ông Văn Phước H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với Lê Văn Đ.

Tại Kết luận giám định số 157/KLTTCT-TTPYTN ngày 12/7/2024 của Trung tâm Pháp y-Sở y tế tỉnh T, kết luận: 01 vết sẹo mặt mu từ xương bàn IV vòng qua kẻ ngón I, II đến ngón III bàn tay trái, kích thước trung bình có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; gãy xương bàn II, III, IV bàn tay trái, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%; mẽ đốt 01 xương bàn IV bàn tay trái, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01 %. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Văn Phước H tại thời điểm giám định là 19%. Thương tích phù hợp do vật sắc gây ra; Cơ chế hình thành thương tích là trực tiếp.

Tại Bản cáo trạng số: 96/CT-VKS-BC ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo Lê Văn Đ đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày; tội danh thống nhất như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhận thức pháp luật còn hạn chế; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; lúc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (17 tuổi 04 tháng 25 ngày); đề nghị áp dụng Điều 65, 91, 101 cho bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện cho bị hại trình bày: không đồng ý lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo; đề nghị xét xử bị cáo nghiêm minh và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện bị cáo, bị hại, người đại diện bị hại, người bào chữa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Do bị hại H chở chị K bạn gái của bị cáo đi chơi; khoảng 20 giờ ngày 31/5/2024, bị cáo Đ mang theo 01 dao tự chế bằng kim loại (chiều dài 50cm, cán dao dài 15cm, lưỡi dao dài 35cm, nơi rộng nhất của lưỡi 06cm, nơi nhỏ nhất của lưỡi 03cm) và điều khiển xe môtô biển số 70D1-739.18 đi tìm chị K. Khi đi đến khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện B thì thấy H điều khiển xe môtô chở chị K ngồi phía sau. Lúc này, Đ điều khiển xe vượt lên bên phải song song thì H dùng chân đạp làm cho xe của Đ bị chao đảo; bị cáo Đ tiếp tục điều khiển xe vượt lên bên trái song song và cách xe của H khoảng 01 mét, cầm dao bằng tay phải chém 01 cái từ trên xuống trúng vào mu bàn tay trái của H gây thương tích. Tại Kết luận giám định của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Văn Phước H tại thời điểm giám định là 19%. Thương tích phù hợp do vật sắc gây ra; Cơ chế hình thành thương tích là trực tiếp.

Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ, bị cáo dùng dao chém bị hại; hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn Đ đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương; tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện có chiều hướng gia tăng; để ngăn chặn loại tội phạm này; cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng án treo là không phù hợp nên không chấp nhận.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.3] Lúc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (17 tuổi 04 tháng 25 ngày); cần áp dụng Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

[5] Trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện bị hại yêu cầu bồi thường: chi phí điều trị, tiền ăn (bị hại và người nuôi bệnh), tiền xe từ ngày 31-5-2024 đến 04-6-2024 tại Bệnh viện H1 và Bệnh viện C1, tổng cộng 12.972.418 đồng. Tiền chi phí tái khám 04 lần gồm: tiền thuốc, thuê xe, ăn từ ngày 12-6-2024 đến 28-8-2024 là 12.888.800 đồng. Tiền thu nhập bị mất của người nuôi bệnh 05 ngày là 2.500.000 đồng, người bị hại 04 ngày là 2.000.000 đồng, tổng cộng 4.500.000 đồng. Chi phí giám định 1.000.000 đồng. Tiền mỗ lần 2 là 20.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 115.000.000 đồng, tổng cộng: 166.361.218 đồng.

Xét thấy, chi phí điều trị, tiền ăn, tiền xe, tiền mất thu nhập, tái khám.... người đại diện bị hại yêu cầu là có căn cứ phù hợp nên chấp nhận.

Riêng tiền tổn thất tinh thần, người đại diện bị hại yêu cầu là cao, chưa phù hợp. Trong khi bị hại bị tổn thương 19%, cho nên chấp nhận số tiền tổn thất tinh thần 24.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền phải bồi thường là 75.361.218 đồng.

Đối với 01 xe mô tô biển số 70D1-739.18 là của bà Nguyễn Thị Bích L1 (bà nội bị cáo) đứng tên; bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội bà L1 không biết. Cho nên cần tuyên trả lại ch bà L1.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 02-9-2024.
  4. Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 584, 586, 590 của Bộ luật dân sự.
    1. Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải bồi thường cho bị hại số tiền 75.361.218 (bảy mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi mốt ngàn, hai trăm mười tám) đồng. Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; bị cáo phải bồi thường tiếp 55.361.218 (năm mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi mốt ngàn, hai trăm mười tám) đồng, bằng tài sản của bị cáo, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Bé L bồi thường phần còn thiếu.
    2. T3 trả cho bà Nguyễn Thị Bích L1 01 xe mô tô biển số 70D1-739.18.
  5. Về án phí: bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 107/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LE VAN DAT - CO Y GAY TT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger