Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HSST

Ngày: 04/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền

Ông Nguyễn Văn Thông

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

-Phạm Thị L sinh năm 1977 tại Thái Bình; Nơi thường trú: thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện tại: Cầu Đ, phường H, quận H, TP Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Ngọc H, sinh năm 1939; Con bà: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1949; Chồng: Vũ Văn Q, sinh năm 1976.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/12/2024; tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, tại khu vực ngõ G, Tổ dân phố C, phường H, quận H, Hà Nội, tổ công tác Công an quận H, phối hợp với Công an phường H phát hiện Phạm Thị L có biểu hiện nghi vấn phạm tội liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật nghi ma túy. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật nghi ma túy rồi đưa Phạm Thị L về trụ sở để làm rõ.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 túi ni lông có kích thước (1,5 x 1,5) cm bên trong có tinh thể màu trắng bên ngoài dán băng dính màu đen (niêm phong ký hiệu M1) và 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax màu bạc đã qua sử dụng bên trong lắp sim số I (thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thị L).
  • - 01 túi ni lông màu xanh kích thước (8 x 12) cm bên trong có: 01 túi ni lông kích thước (4 x 4) cm và 01 túi ni lông kích thước (2 x 2) cm đều chứa tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M2 (thu giữ khi khám xét tại phòng trọ).
  • - 01 túi xách da màu nâu, đã qua sử dụng.
  • - Số tiền 500.000 đồng tiền ngân hàng N đang lưu hành (do Phạm Thị L tự nguyện giao nộp khi làm việc tại Cơ quan điều tra).

Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị L như sau:

-Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị L khai: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 19/12/2024, Phạm Thị L đang ở phòng trọ tại số E ngõ G, Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội, thì có một người nam giới không quen biết, đã sử dụng tài khoản Zalo "Trịnh Hòa" nhắn tin, gọi điện đến tài khoản Z "Trang T1" trên điện thoại Iphone 16 Promax màu bạc lắp sim số 0913037010 của L. Người nam giới hỏi mua của L 500.000 đồng ma túy “đá”, L đồng ý bán ma túy cho người này. Tuy nhiên, do chưa có sẵn ma túy nên L đã hẹn người nam giới liên hệ lại sau. Sau đó L bắt xe ôm từ nhà trọ đến khu vực vườn hoa H, phường N, quận H, Hà Nội để tìm mua ma túy “đá” về bán kiếm lời. Khi đến nơi, L xuống xe đi bộ và trông thấy một người nam giới không quen biết nhìn giống người nghiện đứng trên vỉa hè. L đi lại gần hỏi người này "anh có ma túy đá không, bán cho một triệu", người nam giới hiểu ý nói "có, đưa tiền đây". Nghe vậy L lấy trong người ra số tiền 1.000.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền và đưa lại cho L 01 túi ni lông màu xanh bên trong có 01 túi ni lông màu trắng chứa ma túy “đá”. Mua xong, L cầm số ma túy đã mua được rồi đi xe ôm về nhà trọ. Tại nhà trọ, L lấy túi ni lông màu trắng chứa ma túy đá ra, chia một phần ma túy mua được vào 02 túi ni lông nhỏ khác, nhằm bán lại cho người khác với giá 500.000 đồng mỗi túi; phần ma túy còn lại L vẫn để trong túi ni lông to màu trắng ban đầu; dự định bán với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, L cất cả ba túi ma túy vào trong túi xách treo trên giá quần áo ở trong phòng trọ.

Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày 19/12/2024, khi nam giới sử dụng tài khoản zalo tên "Trịnh Hòa" liên lạc lại với L thì L yêu cầu người nam giới chuyển khoản số tiền 500.000 đồng. Người nam giới đã chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ số tài khoản 02330848286666 M chủ tài khoản Nguyễn Thành S đến số tài khoản ngân hàng B (mang tên Phạm Thị L) của L. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản, L hẹn người nam giới đến khu vực ngõ G, Tổ dân phố C, phường H, quận H để L giao ma túy, người nam giới đồng ý. Sau đó, L lấy 01 túi ni lông nhỏ chứa ma túy “đá” từ túi xách đã cất trước đó ra cầm trong lòng bàn tay phải và đi bộ ra trước số nhà D ngõ G, Tổ dân phố C, L dùng băng dính đen dán túi ma túy lên tờ quảng cáo treo trên ống nước, rồi đứng đợi người nam giới mua ma túy đến. Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, tại khu vực ngõ G, Tổ dân phố C, phường H, quận H, Hà Nội khi Phạm Thị L đang đứng chờ để giao ma túy, nhưng chưa kịp giao, thì bị tổ công tác Công an quận H, phối hợp với Công an phường H, quận H kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật nghi ma túy rồi đưa Phạm Thị L về trụ sở để làm rõ.

Ngày 19/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị L tại số E ngõ G, Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội, thu giữ tại móc treo quần áo đầu giường, trong phòng trọ của Phạm Thị L 01 túi xách da màu nâu, bên trong có 01 túi ni lông màu xanh kích thước (8 x 12) cm bên trong túi ni lông có 01 túi ni lông có kích thước (4 x 4) cm và 01 túi ni lông có kích thước (2x2) cm đều chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M2).

Tại bản kết luận giám định số 9130/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

  • “- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông bên ngoài dán băng dính màu đen (ký hiệu M1) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,210 gam.
  • - Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông (để bên trong 01 túi ni lông màu xanh, ký hiệu M2) là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,900 gam”.

Về nguồn gốc ma túy: Phạm Thị L khai nhận mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 19/12/2024 tại khu vực vườn hoa H, phường N, quận H, Hà Nội. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của L, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ.

Đối với người nam giới sử dụng tài khoản zalo “Trịnh H1” liên lạc với tài khoản zalo “Trang T1” của Phạm Thị L để giao dịch mua ma túy. Phạm Thị L không biết thông tin về tên tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với anh Nguyễn Thành S, sinh năm 1996, nơi thường trú: A T, phường Q, quận H, TP Hà Nội là chủ tài khoản số 02330848286666 M, anh S khai: khoảng 19 giờ ngày 19/12/2024, có 01 nam giới không quen biết đưa cho anh 500.000 đồng và nhờ anh chuyển khoản chuyển số tiền này đến số tài khoản ngân hàng B - chủ tài khoản Phạm Thị L, anh không biết mục đích người nam giới nhờ chuyển tiền. Vì vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKS-HĐ ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Phạm Thị L theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 49/CT-VKS-HĐ ngày 25/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị L, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

  • - Xử phạt Phạm Thị L: 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • -Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • -Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì Công an T dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Phạm Thị L, Cán bộ Công an quận H, giám định viên Vũ Việt C, ký hiệu lần lượt M1, M2.

-Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, màu bạc, lắp sim số 0913037010 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy.

-Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách da màu nâu, không còn giá trị sử dụng, là công cụ chứa ma túy,

-Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng là số tiền do Phạm Thị L phạm tội mà có.

-Về án phí và quyền kháng cáo: theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phần thích tỉnh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định của phòng K công an thành phố H và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đầy đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/12/2024, Phạm Thị L mua của 01 người nam giới không quen biết 01 túi ni lông chứa 1,11 gam ma túy Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng, sau khi mua ma túy, L mang về phòng trọ chia ma túy vào 03 túi ni lông nhỏ cất ở nhà trọ với mục đích để bán kiếm lời. Hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày 19/12/2024, tại khu vực ngõ G, Tổ dân phố C, phường H, quận H, Hà Nội, Phạm Thị L mang theo người 01 túi ni lông bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,210 gam, mục đích để bán trái phép cho người nam giới không quen biết với giá 500.000 đồng, người nam giới đã giao số tiền 500.000 đồng cho L qua hình thức chuyển khoản nhưng khi L chưa kịp giao ma túy, thì bị Tổ công tác Công an phường H phối hợp cùng Công an quận H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị L, Cơ quan điều tra thu giữ 02 túi ni lông còn lại, bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,900 gam. Như vậy, Phạm Thị L đã có hành vi cất giữ để bán trái phép 1,11 gam Methamphetamine, mục đích để kiếm lời.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của việc mua bán trái phép chất ma túy và nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy và xử phạt nghiêm khắc người nào có hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nạn nghiện ngập ma tuý, làm huỷ hoại nhân cách, sức khỏe người sử dụng, huỷ hoại hạnh phúc gia đình và có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử bị cáo và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.

[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • -Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  • -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì Công an T dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Phạm Thị L, Cán bộ Công an quận H, giám định viên Vũ Việt C, ký hiệu lần lượt M1, M2.

-Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, màu bạc, lắp sim số 0913037010 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy.

-Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách da màu nâu, không còn giá trị sử dụng, là công cụ chứa ma túy,

-Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng là số tiền do Phạm Thị L phạm tội mà có.

[6]. Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người nam giới sử dụng tài khoản zalo “Trịnh H1” liên lạc với tài khoản zalo “Trang T1” của Phạm Thị L để giao dịch mua ma túy. Phạm Thị L không biết thông tin về tên tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với anh Nguyễn Thành S, sinh năm 1996, nơi thường trú: A T, phường Q, quận H, TP Hà Nội là chủ tài khoản số 02330848286666 M, anh S không quen biết và không biết mục đích người nam giới nhờ chuyển tiền. Vì vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Xử phạt Phạm Thị L 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • -Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì Công an T dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Phạm Thị L, Cán bộ Công an quận H, giám định viên Vũ Việt C, ký hiệu lần lượt M1, M2.
    • -Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax, màu bạc, lắp sim số 0913037010.
    • -Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách da màu nâu.

    Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/2/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.

    - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng theo ủy nhiệm chi số C4-02a/KB, đơn vị trả tiền: Công an quận H, đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, nội dung thanh toán: chuyển tiền vật chứng vụ án: Phạm Thị L, tổng số tiền bằng chữ: năm trăm ngàn đồng chẵn.

  4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • -Tòa án NDTP Hà Nội;
  • -VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • -VKSND TP Hà Nội;
  • -Công an TP Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • -Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HSST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Liên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger