Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/HNGĐ-

Ngày: 17/03/2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Bách.

Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ.
  • 2/ Bà Hoàng Thị An

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thu Thảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 641/2024/TLST- HNGĐ ngày 25/11/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/03/2025,giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Kiều Thị T, sinh năm 1961;
  2. Nơi cư trú: Xóm A thôn H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    ( Xin xét xử vắng mặt phiên toà)

  3. Bị đơn: Ông Lê Tư T1, sinh năm 1959;
  4. Nơi cư trú: Xóm A thôn H, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    (Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2024, các lời khai bổ sung tại Tòa án, bà Kiều Thị T - Nguyên đơn trình bày:

- Về tình cảm: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 đăng ký kết hôn ngày 20/11/1978 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, Hà Nội. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống cùng nhau tại nhà riêng ở xóm A thôn H, xã H, huyện Đ, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng bà T và ông T1 xảy ra mâu thuẫn từ lâu, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nhất là vào năm 2008, ông T1 chửi đuổi bà T nên bà T đã ra ở đất khác cùng con trai thứ hai. Bà T và ông T1 đã ly thân từ lâu. Mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà T đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho bà T và ông T1.

- Về con chung: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Lê Thị T2, sinh năm 1979; Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn – Ông Lê Tư T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 đăng ký kết hôn ngày 20/11/1978 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi kết hôn, bà T và ông T1 chung sống với nhau tại thôn H, xã H, Đ, Hà Nội. Bà T và ông T1 chung sống cùng nhau thời gian đầu cho đến khi ông T1 nghỉ hưu thì không có vấn đề gì. Sau khi ông T1 nghỉ hưu thì do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và cách dạy dỗ con cái dẫn đến xích mích. Bà T thì có tính hay tự ái nên mâu thuẫn căng thẳng hơn. Khi mâu thuẫn căng thẳng thì bà T bỏ ra nhà con trai thứ hai ở, còn ông T1 ở cùng con trai thứ nhất tại đất của cha ông để lại. Từ đó đến nay bà T và ông T1 ly thân. Nay bà T xin ly hôn thì ông T sẽ bàn bạc lại với các con và có ý kiến cụ thể sau.

- Về con chung: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Lê Thị T2, sinh năm 1979; Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên và có sức khoẻ tốt và đã lập gia đình riêng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T1 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 vắng mặt

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu ý kiến:

Qua công tác kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý cho đến khi xét xử:

Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng người tham gia tố tụng.

Thời hạn thụ lí vụ án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải đoàn tụ vợ chồng và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đúng với quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự tại phiên tòa.

Về phía đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về nội dung vụ án:

Sau khi phân tích các tình tiết nội dung của vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Giữa bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn, không chung sống với nhau một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Như vậy cả ông T1 và bà T đều vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Lê Thị T2, sinh năm 1979; Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên nên không phải xem xét giải quyết về nội dung này.

Về tài sản chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 57, Luật hôn nhân và gia đình.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kiều Thị T.Bà Bà Kiều Thị T được ly hôn với ông Lê Tư T1

Về con chung: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Lê Thị T2, sinh năm 1979; Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên không phải giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ngày 09/10/2024, bà Kiều Thị T đã có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Lê Tư T1 và nộp tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn hiện cư trú tại thôn H, xã H, huyện Đ, Hà Nội nên Tòa án thụ lý đơn khởi kiện nên việc thụ lí đơn và thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền về loại việc và thẩm quyền về lãnh thổ.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung vợ chồng.

Tòa án xác định vụ án có nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng là đúng và đầy đủ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, cho đương sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh.

Tòa án đã tiến hành triệu tập đương sự đến để ghi lời khai và triệu tập bị đơn đến Tòa làm việc theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tình cảm:

bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của bà T cũng như ý kiến của khu dân cư nơi hai bên sinh sống thể hiện vợ chồng có mâu thuẫn; Bà T và ông T1 không chung sống cùng nhau nhiều năm, không ai quan tâm đến ai. Như vậy đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung:

Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Lê Thị T2, sinh năm 1979; Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên nên không phải xem xét giải quyết về con chung sau ly hôn

[3] Về tài sản chung, nợ chung:

Bà T và ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí:

Bà T được miễn án phí ly hôn sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi

[5] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Nghị Quyết số 02/2024/NQ-HĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 16.5.2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
  • Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị T. Bà Kiều Thị T được ly hôn với ông Lê Tư T1.
  2. Về con chung: Bà Kiều Thị T và ông Lê Tư T1 có ba con chung là: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1979; Anh Lê Quang T3, sinh năm 1982 và Anh Lê Hồng Q, sinh năm 1987. Hiện tại các con chung đều đã thành niên. Không phải giải quyết về nuôi con chung sau khi ly hôn.
  3. Về tài sản chung Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Kiều Thị T không phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Hoàn trả bà Kiều Thị T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí ký hiệu: BLTU/23 số 0071638 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
  5. Bà Kiều Thị T, Ông Lê Tư T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự trong vụ án;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Ủy ban nhân dân xã Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội để vào sổ đăng kí kết hôn số 153 ngày 20/11/1978
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hồng Bách

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HNGĐ ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 107/2025/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn do mâu thuẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger