Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:107/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/03/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thanh

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 536/2024/HNGĐ-TLST ngày 21/10/2024, về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐ-ST ngày 25/02/2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị B, sinh ngày 16/3/1985.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện đang lao động tại: Singapore.

    Người được chị B ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 2003.

    Địa chỉ: Số I, Ngõ A, đường H, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn : Anh Vũ Quang V, sinh ngày 07/8/1976.

    Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

(Chị B, anh V đều có quan điểm đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn - chị Phạm Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Quang V được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 05/11/2002. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 10/2022 chị sang Singapore lao động, vợ chồng mỗi người sống một nơi, thiếu sự quan tâm chia sẻ dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về quan hệ con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 05/12/2004 và Vũ Tuấn K, sinh ngày 06/01/2010. Hiện nay cháu Tuấn A đã trưởng thành, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với cháu K hiện đang ở với anh V, do chị ở nước ngoài nên ly hôn chị đồng ý để anh V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Về việc cấp dưỡng nuôi con, vợ chồng chị sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị và anh V tự thỏa thuận, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị B tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Do điều kiện công việc chị B không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên chị đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Phạm Văn Đ giao, nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Anh Đ đồng ý nhận ủy quyền của chị B. Sau khi nhận văn bản của Toà án anh Đ đã thông tin cho chị B biết, chị B vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Trường hợp anh V yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung chị B đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Theo bản tự khai và biên bản ghi lời khai, bị đơn - anh Vũ Quang V trình bày: Anh và chị B tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 05/11/2002. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do dịch bệnh C 19 dẫn đến vợ chồng làm ăn kinh doanh thua lỗ, phá sản. Năm 2022 do vợ chồng vay nợ nhiều nên anh có đồng ý để chị B đi nước ngoài lao động. Từ khi đi nước ngoài chị B đã chấm dứt liên lạc với anh, nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị B có đơn ly hôn anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh và chị B có 2 con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 05/12/2004 và Vũ Tuấn K, sinh ngày 06/01/2010. Hiện nay cháu Tuấn A đã trưởng thành, cháu K đang ở với anh. Ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con. Về cấp dưỡng tiền nuôi con hai bên tự thỏa thuận, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Năm 2018 do có nhu cầu vay vốn Ngân hàng, nên vợ chồng có nhờ bố mẹ đẻ của anh là ông Vũ Văn P và bà Lê Thị K1 sang tên nhà đất tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương cho vợ chồng để vợ chồng vay vốn Ngân hàng. Anh xác định nhà đất này không phải là tài sản chung của vợ chồng.

Về nợ chung: Anh và chị B có nợ Ngân hàng V1 800.000.000đồng tiền gốc và nợ tiền người thân. Anh và chị B tự thỏa thuận giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, anh sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.

- Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Anh V có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa phương. Anh V làm nghề lái xe, thỉnh thoảng đi làm ăn xa, cuối tuần có về gia đình. Do vợ chồng làm ăn thua lỗ nên anh V và các con đã về sống cùng bố mẹ tại nhóm G, thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, còn chị B đi nước ngoài lao động.

- Lời khai ông Vũ Văn P là bố đẻ anh V xác định: Mâu thuẫn giữa anh V và chị B ông không biết, tuy nhiên do làm ăn thua lỗ nên ba bố con anh V đã về gia đình ông sinh sống. Chị B đi nước ngoài không liên lạc với gia đình ông. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, ông đều thông tin cho anh V biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị Phạm Thị B và anh Vũ Quang V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị B được ly hôn anh V. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Vũ Tuấn K, sinh ngày 06/01/2010 cho anh Vũ Quang V chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Các bên tự thỏa thuận, nên không giải quyết. Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị B và anh Vũ Quang V đều có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện tại chị B đang sinh sống tại Singapore. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu của chị Phạm Thị B gửi về Tòa án bao gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền đều được xác nhận của Đ1 xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại CH S. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung các văn bản này thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị B.

Tại phiên tòa chị B, anh V vắng mặt nhưng anh chị đều có quan điểm xin được xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị B và anh Vũ Quang V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 05/11/2002, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu sự quan tâm, chia sẻ dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn, anh V cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn gữa chị B và anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B.

- Về con chung: Chị Phạm Thị B và anh Vũ Quang V có hai con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 05/12/2004 và Vũ Tuấn K, sinh ngày 06/01/2010. Hiện cháu Tuấn A đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu K hiện đang sống cùng với anh V, ly hôn chị B và anh V đều có nguyện vọng để anh V tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện nay chị B đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, cháu K hiện đang sống cùng bố và ông bà nội, được học tập và phát triển tốt, do vậy để ổn định cuộc sống của cháu cần tiếp tục giao cháu K cho anh V chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị B và anh V đều có quan điểm tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh V có trình bày về nợ chung và xác định vợ chồng không có tài sản chung. Tuy nhiên, anh V không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh V, chị B có quyền đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[3].Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị B được ly hôn anh Vũ Quang V.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Vũ Tuấn K, sinh ngày 06/01/2010 cho anh Vũ Quang V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi.

    Chị Phạm Thị B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005257 ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị B đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Anh Vũ Quang V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Cao Thắng;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 107/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger