TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST | |
Ngày 03 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Văn Trần
2. Bà Trần Thị Bích Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Nhà văn hóa tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T. Toà án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn M
sinh ngày 13 tháng 9 năm 1965 tại xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Lê Thị V; có vợ Trần Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, tại khu vực trước cửa cổng nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an tỉnh V phối hợp với Công an xã B phát hiện, bắt quả tang Trần Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng, gồm: thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của M đang mặc 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 Coóng thủy tinh đã qua sử dụng và 01 túi nilon màu trắng, bên trong có các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, M khai nhận đây là túi ma túy Methamphetamine của M cất giấu mục đích để sử dụng, vật chứng được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A1; tạm giữ tại túi quần phía trước bên phải của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, vỏ màu đen, có số IMEI: 868229057265544/01.
Ngày 05/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn M tại thôn H, xã B, huyện L, kết quả, không thu giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì
Tại bản Kết luận giám định số 2590/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,3217g (Không phẩy ba hai một bảy gam, không kể bao bì)”.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,2781 gam cùng toàn bộ bao gói.
Về nguồn gốc ma túy, M khai: Buổi sáng 04/9/2024, M một mình đi chơi ở khu vực cầu C thuộc xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, trong lúc đang chơi, M gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đứng một mình, thấy có nhiều biểu hiện của người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên đi đến bắt chuyện và hỏi mua được của người này 01 gói ma túy Methamphetamine với giá 100.000đ, đem về nhà mục đích để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, M đem theo số ma túy trên cùng 01 coóng thủy tinh đúc trong túi quần bên trái rồi một mình đi bộ đến nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để thuê phòng vào sử dụng ma tuý nhưng khi vừa đi đến cổng nhà nghỉ H chưa kịp vào thuê phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Đối với người bán ma tuý, do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 95/VKSTĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 01 (một) năm 10 (mười) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 05/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật ma túy do Phòng K Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định là 0,2781 gam cùng toàn bộ bao gói, là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Coóng thủy tinh, đã qua sử dụng; qua điều tra xác định là dụng cụ M tự chế tạo để sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của M, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho M, nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Văn M thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, tại khu vực trước cửa cổng nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Văn M bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, qua giám định có khối lượng 0,3217g, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, là tệ nạn cần loại bỏ ra khỏi xã hội bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe, giống nòi và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người trưởng thành có nhận thức nhất định nhưng đã buông lỏng bản thân dẫn đến việc mắc nghiện, sử dụng chất ma túy, chất gây nghiện. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử lưu động nhằm tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân về tác hại của ma túy đồng thời xử phạt nghiêm minh đối với hành vi vi phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng hình phạt bị cáo không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với mẫu vật ma túy do Phòng K Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định là 0,2781 gam cùng toàn bộ bao gói, là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 Coóng thủy tinh, đã qua sử dụng; qua điều tra xác định là dụng cụ M tự chế tạo để sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của M, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho M, nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án.
[7] Đối với người bán ma tuý, do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, ngoài lời khai của bị cáo M không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
[8] Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn M 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 05/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng K Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định là 0,2781 gam cùng toàn bộ bao gói ; 01 Coóng thủy tinh, đã qua sử dụng. Trả lại cho Trần Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Hồng Quý |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lâm Văn Bảy | Ngô Duy Tùng | Trần Thị Hồng Quý |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần văn M tang trư trai phép chat ma tuy
