TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/DS-ST Ngày: 12-12-2024. “V/v tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Hoa Lư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đặng Văn Hai;
Ông: Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Phát Đạt- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 tháng 12 và ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2020/TLST-DS, ngày 21/10/2020, về “Tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102A/2024/QĐXXST-DS, ngày 29/7/2024; Quyết tạm ngừng phiên tòa số: 486/QĐST-DS, ngày 12/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Châu L, sinh năm 1972.
- Địa chỉ: Số nhà B, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh ĐT.
- Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số nhà B, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh ĐT (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
- Địa chỉ: I ấp B, xã B, huyện L, tỉnh DT.
- Bị đơn: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1957. (vắng mặt)
- Nguyễn Hữu N, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số nhà C, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh ĐT.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: 328/HT, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh ĐT.
- Nguyễn Thị Ngọc M3, sinh năm 1955 (vắng mặt)
- Địa chỉ: C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh ĐT.
- Người đại diện theo ủy quyền cho bà C là: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990 (có mặt).
- Địa chỉ: 92 ấp BPQ, xã BT, huyện LV, tỉnh DT
- Phan Văn T, sinh năm 1969 (vắng mặt).
- Huỳnh Thị Y, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Phan Thanh P, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Phan Thị O, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: B, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh ĐT.
- Phan Văn M, sinh năm 1965(vắng mặt).
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1967(vắng mặt)
- Phan Thanh Vũ E, sinh năm 1996(vắng mặt).
- Địa chỉ: C, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh ĐT.
- Trần Kim Đ, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Nguyễn Hoài H1, sinh năm 1982(vắng mặt)
- Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1999(vắng mặt)
- Nguyễn Hữu T, sinh năm 2007(vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: 328/HT ấp H, xã T, huyện L, tỉnh ĐT.
- Huỳnh Thị P1, sinh năm 1958 (vắng mặt) .
- Địa chỉ: Số nhà C, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh ĐT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ngày 06/12/2024 người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Nguyễn Thị Châu L là Nguyễn Văn L1 trình bày:
Nguyên cha bà L3 là ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1928 chết năm 2018, mẹ là bà Võ Thị K sinh năm 1937 chết năm 2017. Thời gian sống chung có sinh được 08 người con là: Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim C, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Châu L, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Thị Ú. Ông Đ1, bà K chết không có để lại di chúc. Tài sản ông bà để lại gồm các thửa đất số 52, 67 cùng tờ bản đồ số 52, thửa 56, 66 cùng tờ bản đồ số 55, thửa 74, 236 cùng tờ bản đồ số 52. Các thửa đất trên đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ1, bà Võ Thị K. Địa chỉ các thửa đất trên tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 28.177.6m² trong, trừ đi diện tích đã bán 1166,6m² (ONT và CLN) còn lại là 27.011m² trong đó 2393,1m² đất ở nông thôn và 3.312m² cây lâu năm thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55. Do các anh em không thống nhất cách chia nên bà L3 làm đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật tại thửa đất số 152, 67 cùng tờ bản đồ số 52, thửa 56, 66 cùng tờ bản đồ số 55, thửa 74, 236 cùng tờ bản đồ số 52. Bà L3 thống nhất chia làm 9 phần trong đó có 1 phần bà L3 dể lại cho phần thờ cúng, ai thờ cúng ông bà cha mẹ thì hưởng phần di sản này. Cụ thể bà L3 yêu cầu diện tích theo đo đạc thực tế bà L3 được hưởng phần đất lúa là 2805,5m² thuộc thửa 236, tờ bản đồ số 52 phần này bà L3 yêu cầu nhận giá trị theo kỹ phần bà L3 được hưởng theo giá của Hội đồng định giá huyện L. Còn phần nhận đất thì bà L3 yêu cầu được hưởng và đứng tên chung diện tích cùng với bà C theo đo đạc thực tế là 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (295,44m² ONT còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, MM16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62. Hiện phần đất bà L3 và bà C yêu cầu là đất trống hiện các anh em chỗ chị Ú1 canh tác trồng lúa. Thửa 236 hiện đất lúa anh em cùng sử dụng chung không cho ai thuê mướn.
Phần còn lại của các thửa khác trên đất có các anh em như ông T2, ông N1, bà H2, bà Ú1 sử dụng. Phần đất lúa phía sau các anh em chia nhau sử dụng, bà L3 không biết cụ thể ai sử dụng như thế nào vì bà L3 không ở gần không biết. Bà L3 chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật như trên phần còn lại các anh em tự quyết định bà L3 không ý kiến.
Các anh em bà L3 cho rằng trước đây cha mẹ đã cho bà L3 phần đất là không đúng vì từ trước đến nay bà L3 chưa được cha mẹ chia đất, còn phần đất đã chuyển quyền như anh em bà L3 trình bày là do cha mẹ bà L3 chuyển quyền và sử dụng chứ bà L3 không biết và không có sử dụng nguồn tiền từ việc chuyển nhượng này.
Bà L3 thống nhất với kết quả đo đạc theo sơ đồ ngày 29/11/2022, ngày và định giá này 16/6/2021 làm cơ sở giải quyết vụ án.
Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên hiện do anh em giữ, không có đi thế chấp ở đâu.
Đối với diện tích đã mà ông Đ1, bà K đã chuyển nhượng cho ông T3, ông M1 bà L3 thống nhất tách ra, nếu ông T3, M1 có yêu cầu thì công nhận vì phần đất này trước đây cha mẹ còn sống đã chuyển nhượng nên không ý kiến.
3
Người đại diện theo ủy quyền cho bà L3 là ông Nguyễn Ngọc Ẩ trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông L2 không trình bày hay bổ sung gì thêm.
Người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà Nguyễn Thị Kim C là ông Nguyễn Văn L1 trình bày: Về cha mẹ bà C có các anh em cũng như tài sản để lại đúng như bà Châu L3 trình bày. Bà C thống nhất với kết quả đo đạc ngày 29/11/2022 và định giá này 16/6/2021 làm cơ sở giải quyết vụ án.
Bà C xác định trước đây còn sống cha mẹ chưa có chia đất cho các anh em và kể cả bà L3 cũng chưa được chia đất. Trong vụ án này bà C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật theo pháp luật bà C và bà L3 được đứng tên chung diện tích như sau: Diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (295,44m² còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, MM16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62.
Bà C thống nhất chia làm 9 phần trong đó có 1 phần để lại làm di sản thờ cúng, ai thờ cúng thì được hưởng. Bà C chỉ yêu cầu diện tích như trên, nếu kỹ phần bà C nhận còn thiếu bà C cũng không yêu cầu nhận giá trị thêm.
Trong quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Ú vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên những người trong hàng thừa kế có lời khai: Cha mẹ có tất tất cả 8 người con như bà L3 trình bày, hiện cha mẹ chết có để lại các thửa đất như bên nguyên đơn trình bày tuy nhiên đây là tài sản của cha mẹ, nên cứ để vậy không đồng ý chia thừa kế cho bà Châu L3 vì bà L3 được cha mẹ chia cho đất rồi, không có quyền nhận thêm nữa, còn bà C thì chỉ thống nhất cho bà C về cất nhà ở trên đất ngang 6 mét và dài 20 mét, chỉ cất nhà ở không cho đứng tên quyền sử dụng đất. Trong vụ án này các đồng thừa kế này cho rằng không yêu cầu chia di sản thửa kế cứ để vậy để các anh em tự quản lý sử dụng, hiện các thửa đất các anh em đều sử dụng chung, chưa chia cho ai. Bà C, bà L3 yêu cầu đó là quyền của họ còn các anh em thống nhất không yêu cầu mà để vậy tự các anh em sẽ giải quyết phân chia. Phần đất đã chuyển nhượng cho ông T3, M1 những người này đều thống nhất đã chuyển nhượng và thống nhất tách ra cho ông T3, ông M1 nếu có yêu cầu.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là Phan Văn T4, Phan Văn M khai: Trước đây vào năm 2009 ông T3, ông M1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 1166,6m², giá nhận chuyển nhượng là 40.000.000 đồng, hai bên có làm giấy tay có ông Đ1, bà K ký bên chuyển nhượng, ông T3, M1 ký bên nhận chuyển nhượng, hai bên đã giao đủ tiền và sử dụng ổn định từ năm 2008 cho đến nay. Trong vụ án các con bà K, ông Đ1 thống nhất tách quyền sử dụng diện tích đã chuyển nhượng cho ông Tiếp M1, ông T3, Mến thống nhất không khởi kiện yêu cầu gì trong vụ án mà chúng sẽ thỏa thuận yêu cầu tách với các con của ông Đ1 bà K sau vụ án này, nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Đối với Huỳnh Thị Y, Phan Thanh P, Phan Thị O, Phan Văn M, Nguyễn Thị L trong hộ ông M1, T3 không có ý kiến gì.
Đối với Trần Kim Đ, Nguyễn Hoài H3, Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Hữu T trình bày thống nhất với ý kiến của ông N1, giao cho ông N1 toàn quyền quyết định, trong vụ án này những người này không yêu cầu gì.
Đối với bà Huỳnh Thị P1 thống nhất ý kiến ông T2, không yêu cầu gì trong vụ án.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên quá trình giải quyết còn vi phạm về thời hạn xử lý đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Châu L người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C.
Bà Nguyễn Thị Châu L và bà Nguyễn Thị C được hưởng diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (ONTlà 295,44m², CLN là 265,06m²) từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62 theo sơ đồ đo đạc ngày 29/11/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Các đồng thừa kế ông Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Ú có trách nhiệm trả giá trị diện tích 1.529.47m² tại thửa đất số 236, TBĐ 52 cho bà Nguyễn Thị Châu L theo giá của Hội đồng thẩm định giá ngày 16/6/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
5
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với bị đơn Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Ú, Phan Văn T4, Phan Văn M, Huỳnh Thị Y, Phan Thanh P, Phan Thị O, Phan Văn M, Nguyễn Thị L, Trần Kim Đ, Nguyễn Hoài H3, Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Hữu T5 án đã tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần nhưng những người này không đến tham gia tuy nhiên có một số đương sự đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, một số còn lại không có ý kiến phản bác hay yêu cầu gì trong vụ án. Xét thấy việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng cho quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo thủ tục chung.
[2].Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp chia di sản thừa kế, đây là quan hệ dân sự theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3].Về thẩm quyền giải quyết: Đối tượng xin chia di sản thừa kế là bất động sản có địa chỉ tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về thời hiệu khởi kiện.
Cụ Nguyễn Văn Đ1 chết năm 2018, cụ Võ Thị K chết năm 2017, hai cụ chết không để lại di chúc, đến năm 2020 nguyên đơn khởi kiện xin chia di sản thừa kế như vậy vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện là 30 năm theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật dân sự.
[6] Về nội dung vụ án:
Các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp gồm thửa 52, 67 cùng tờ bản đồ số 52, thửa 56, 66 cùng tờ bản đồ số 55, thửa 74, 236 cùng tờ bản đồ số 52. Các thửa đất trên đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ1, đất tọa lạc tại, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là của cha mẹ là cụ Nguyễn Văn Đ1, cụ Võ Thị K tạo lập được quản lý tài sản đến khi chết. Đây là tài sản chung của vợ chồng. Năm 2017 cụ K chết không để lại di chúc, năm 2018 cụ Đ1 chết không để lại di chúc. Nay nguyên đơn và các anh em không thống nhất cách chia nên khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.
Hiện trên thửa đất số 67, tờ bản đồ số 52 và thửa đất số 66 tờ bản đồ số 55 có một phần ông Đ1 bà K đã chuyển nhượng cho ông Phan Văn T4, Phan Văn M vào năm 2009 nhưng chưa làm thủ tục sang tên, diện tích theo đo đạc là 1166,6m² thể hiện từ các mốc M34, M35, M36, M37, M38, M39, M40, M41 về M34 thuộc một phần thửa đất số 66 tờ bản đồ số 55, thửa 67 tờ bản đồ số 52 theo sơ đồ đo đạc ngày 29/11/2022 của chi nhánh V đăng ký đất đai.Trong vụ án này ông T3, M1 không có yêu cầu nên không xem xét, tuy nhiên nguyên đơn và các đồng sở hữu đều thống nhất và tách ra diện tích này cho ông M1, T3 nên sẽ trừ diện tích này ra phần còn lại sẽ được xem là di sản thừa kế để chia.
Trong vụ án này nguyên đơn Nguyễn Thị Châu L và bà Nguyễn Thị C có yêu cầu độc lập cụ thể yêu cầu chia thừa kế được hưởng và đứng tên chung diện tích cùng với bà C theo đo đạc thực tế là 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (295,44m² còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62. Hiện phần đất bà L3 và bà C yêu cầu là đất trống hiện các anh em chỗ chị Ú1 canh tác trồng lúa. Yêu cầu này của bà L3 và bà C không được các anh em đồng thừa kế đồng ý vì cho rằng bà L3 trước khi cha mẹ chết đã chia cho bà L3 diện tích để canh tác, tuy nhiên lời trình bày này không có gì chứng minh và các đồng thừa kế cũng cho rằng các thửa đất bà K, ông Đ1 để lại đều là di sản để chia thừa kế do đó việc bà L3 bà C chưa nhận tài sản có quyền yêu cầu chia thừa kế là đúng theo quy định của pháp luật.
Bởi lẽ, đối chiếu với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy việc các bên đều thừa nhận tài sản đang tranh chấp là của cụ Đ1 và cụ K, hai cụ đã tạo lập tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì theo nguyên tắc hai cụ đã chết thì tài sản để lại được xem là di sản để chia, hai cụ chết không để lại di chúc được các bên thừa nhận nên xác định chia theo pháp luật là đúng quy định.
Tại Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thảo thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất...”
7
Cụ Đ1 và cụ K có tất cả là 08 người con thì phải chia thừa kế theo pháp luật cho 08 người cùng hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà M2, ông T2, ông N1, bà T6, bà H2, bà L3, bà C, bà Ú1. Tuy nhiên bà L3, bà C đều cho rằng hiện bà Ú1 một năm phải thờ cúng nhiều đám giỗ cho nên bà C, bà L3 tự nguyện chia làm 09 phần trong đó có 01 phần làm di sản thờ cúng cha mẹ. Xét thấy sự tự nguyện của bà L3, bà C là hợp lý có lợi cho bị đơn và các đồng thừa kế còn lại nên việc xác định chia di sản thừa kế làm 09 phần là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với thực tế.
Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc; ...”
Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;...”.
Vì vậy nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế cụ thể là được chia 1/09 trong di sản của cụ Đ1 và cụ K cụ thể là được hưởng diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (ONT 295,44m² còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52, tờ bản đồ số 62 diện tích này cũng là yêu cầu của bà C cả hai được đứng tên chung.
Tổng cộng cụ Đ1 và cụ K để lại 6 thửa đất đo đạc thực tế tổng diện tích là 28.177,6m², trừ đi diện tích đã bán 1166,6m² còn lại là 27.011m² trong đó có 3.312m² đất cây lâu năm, đất ONT 2.393,1m² đất lúa, còn lại là 21.305,9m² đất Lúa.
Tổng diện tích 27.011m² chia đều cho 9 kỷ phần mỗi kỷ phần tương đương là 3.001,2m², cây lâu năm tương đương mỗi kỷ phần là 368m², Lúa 2.367,3m², ONT tương đương là 265,9m². Hội đồng xét xử xét thấy việc chia đất cho ai được hưởng diện tích và vị trí điều kiện nhận cho phù hợp thực tế, không thể chia đều diện tích đất ra cho nên phần nào không chia được thì chia theo chênh lệch giá trị.
8
Bà L3, bà C yêu cầu nhận diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ở nông thôn ( trong đó ONT là 295,44m² còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62 không vượt quá phần được hưởng và bà L3, bà C không yêu cầu nhận thêm giá trị phần vượt quá của cây lâu năm và đất ở. Yêu cầu được đứng tên chung của bà L3 bà C là không trái quy định pháp luật nên chấp nhận. Bà C không yêu cầu nhận thêm phần chênh lệch dư ra nên không xem xét giải quyết. Riêng bà L3 có yêu cầu nhận giá trị thêm phần diện tích chênh lệch tại thửa đất số 236 cụ thể là theo kỷ phần bà L3 còn nhận thêm diện tích là 1.529.45m². Phần này bà L3 yêu cầu được nhận giá trị theo định giá là 75.000 đồng thành tiền là 114.708.750 đồng. Bà L3 không nhận đất vậy các đồng thừa kế là ông T2, ông N1, bà M2, bà Ú1, bà H2, T6 có nghĩa vụ trả lại cho bà L3 114.708.750 đồng giá trị đất.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L3 và bà C về yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất.
Công nhận cho bà L3, bà C được đứng tên chung quyền sử dụng đất diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ONT (ONT là 295,44m² còn CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62 theo sơ đồ đo đạc ngày 29/11/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Buộc bà Ú1, ông T2, ông N1 có nghĩa vụ ban giao lại diện tích như trên cho bà L3, bà C sử dụng.
Bà L3 được nhận giá trị đất đối với diện tích đất 1.529.45m² tại thửa đất số 236 tờ bản đồ số 52, giá mỗi mét vuông là 75.000 đồng thành tiền 114.708.750 đồng các đồng thừa kế ông ông T2, ông N1, bà M2, bà Ú1, bà H2, bà T6 có nghĩa vụ trả lại cho bà L3 số tiền này.
Phần diện tích còn lại thuộc di sản thừa kế của ông Đ1, bà K qua làm việc với bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanlà ông T2, ông N1, bà M2, bà Ú1, bà H2, T6 không yêu cầu chia gì trong vụ án này tự họ sẽ phân chia giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với các cây trồng có trên đất (cây tạp), các đương sự thống nhất không tranh chấp nên không yêu cầu định giá và không xem xét giải quyết.
Đối với diện tích chuyển nhượng cho ông T3, M1 thì những người này cũng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Đối với những người có quyền lợi, nghã vụ liên quan còn lại trong vụ án hok có ý kiến không yêu cầu, tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí, chi phí thẩm định, định giá: Do yêu cầu của bà Châu L3, bà C được chia theo pháp luật nên căn cứ vào Điều 147, 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và áp dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nên bà L3 bà C phải án phí trên giá trị mình được hưởng, Còn bà C thuộc trường hợp người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định. Tổng án phí bà L3, bà C phải chịu là 14.561.000 đồng, tuy nhiên phần bà C được miễn nên bà L3 còn phải chịu là 7.280.500 đồng, cộng với phần án phí trên số tiền được nhận giá trị chênh lệch của một phần thửa đất số 236 tờ bản đồ số 52 là 5.735.500 đồng. Tổng cộng bà L3 phải nộp là 13.016.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền bà L3 đã tạm nộp là 8.931.000 đồng . Như vậy bà L3 còn phải nộp thêm là 4.085.000 đồng.
Đối với chi phí thẩm định, định giá. Ai được hưởng di sản sẽ chịu chi phí theo quy định, trong vụ án này di sản được chia cho bà L3 bà C hưởng thì hai người này sẽ chịu chi phí thẩm định theo quy định. Tổng chi phí là 25.922.210 đồng. Bà L3 đã tạm nộp do đó bà C hưởng thừa kế có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà L3 là 12.961.000 đồng.
[8]Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện lai Vung tham gia phiên tòa là có cơ sở nên thống nhất với lời đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, 166, Điều 228, 229 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 584, 623, 630, 634, 635, 649, 650, 651, 659, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015 khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và áp dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Châu L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C.
- Bà Nguyễn Thị Châu L, bà Nguyễn Thị C được hưởng và đứng tên chung diện tích 560,5m² đất cây lâu năm và ở nông thôn (ONT là 295,44m² CLN là 265,06m²) thể hiện từ các mốc M6, M7, M8, M9, M10, M17, M16, M19 về M6, thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 55; diện tích 1091,7m² thể hiện từ các mốc M5, M6, M19, M16, M15, M20, về M5, thuộc một phần thửa đất số 56 tờ bản đồ số 55, mục đích đất lúa; diện tích 1291,3m² thể hiện từ các mốc M4, M5, M20, M15, M2,M3 về M4, đất Lúa thuộc một phần thửa đất số 52 tờ bản đồ số 62 theo sơ đồ đo đạc ngày 29/11/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Ông Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu N Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Ú có nghĩa vụ giao lại diện tích trên cho bà Nguyễn Thị Châu L, Nguyễn Thị C quản lý sử dụng.
Các đồng thừa kế ông Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu N Nguyễn Thị Ngọc M3, Nguyễn Thị Bé T1, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Ú có nghĩa vụ thối lại giá trị diện tích 1.529.45m² tại thửa đất số 236 tờ bản đồ số 52 cho bà Nguyễn Thị Châu L là 114.708.750 đồng (Một trăm mười bốn triệu, bảy trăm lẻ tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
(Kèm theo bản án là biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 29/11/2022, 16/6/2021, biên bản định giá ngày 16/6/2021).
- Về án phí và chi phí đo đạc, định giá:
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Châu L phải chịu án phí về phần tài sản được hưởng là 13.016.000 đồng được khấu trừ 8.931.000 đồng (Tám triệu, chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005472, ngày 11/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
11
Bà L3 còn phải nộp thêm là 4.085.000 đồng (Bốn triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn đồng)
Bà C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim C số tiền tạm ứng án phí là 4.725.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010525, ngày 14/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Về chi phí đo đạc, định giá: Bà L3, bà C chịu chi phí thẩm định, định giá mỗi người là 12.961.000 đồng. Bà L3 đã tạm ứng và chi xong nên ông T7 chi phí là 25.922.210 đồng (Bà L3 đã tạm nộp do đó bà C hưởng thừa kế có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà L3 là 12.961.000 đồng.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/12/2024) Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa ngày 12/12/2024 thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Hoa Lư |
12
Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 107/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất
