|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày 10-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh.
Ông Huỳnh Văn Tới.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thúy Vân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: Bùi Tấn P, sinh năm 1990, tại tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Phi Đen; Thường trú: Khóm H, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm H, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hưng Đ và bà Lê Thị T; Vợ: Nguyễn Thảo L và 01 người con.
Tiền án: Năm 2012, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 07 năm tù về Tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2016 nhưng phần dân sự chưa chấp hành.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 02 năm 06 tháng tù về Tội cưỡng đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 05/4/2020.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/8/2023 và sau đó chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
Bị cáo thứ hai: Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1987, tại tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Cu Hòn; Thường trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm H, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Bế Thị L1; Vợ: Nguyễn Thanh T3; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/8/2023 và sau đó chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
Bị cáo thứ ba: Huỳnh Thanh Q, sinh năm 2001, tại tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Bi Quyền; Thường trú: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị T4; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/8/2023 (bị cáo đầu thú) và sau đó chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh T5, sinh năm 1982 (có mặt).
Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T5: Ông Phạm Xuân K – Luật sư thuộc Công ty L5 trách nhiệm hữu hạn Luật Sống, Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 06/8/2023, Bùi Tấn P phát hiện anh Nguyễn Minh T5 và anh Mai Hữu D đi ăn tối tại quán A1 thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, do trước đó giữa anh T5 với Bùi Tấn P có mâu thuẫn với nhau nên Bùi Tấn P trên tay cầm cây dao Thái Lan cán màu vàng định đâm anh T5 nhưng phía anh T5 bỏ chạy. Khi đó, Bùi Tấn P rượt đuổi được một đoạn thì anh T5 và Bùi Tấn P câu vật, giằng co với nhau làm cho lưỡi dao bị gãy. Bùi Tấn P tiếp tục dùng đoạn cán dao còn lại đâm vào người của T5 nhưng không gây thương tích, Phi cắn vào người anh T5, D dùng ly thuỷ tinh ném trúng vào người của Bùi Tấn P, P và T5 buông ra sau đó được mọi người can ra thì Bùi Tấn P bỏ chạy. Lúc này, Mai Hữu D lấy cây dá dùng để đào đất tại quán A1 rồi điều khiển xe về nhà của anh T5, phía anh T5 sau khi thấy xe
Exciter của Bùi Tấn P để tại quán thì anh T5 điều khiển xe của Bùi Tấn P chạy về trình báo công an. Trước khi anh T5 điều khiển xe của Bùi Tấn P thì anh T5 có nói với anh Nguyễn Văn Tó và chị Phạm Thị N là chủ quán và nhân viên quán A1 biết. Trên đường về, anh T5 ghé đậu xe ngoài đường trước nhà của anh T5 để điện báo công an thì lúc này Bùi Tấn P điện thoại đe doạ anh T5, tiếp đó anh T5 gọi điện cho anh L2 là Trưởng Công an thị trấn S biết sự việc nhưng không điện được. Khoảng vài phút sau thì Bùi Tấn P trên tay cầm một cây dao tự chế cùng với Nguyễn Hữu T1 trên tay cầm hai cây kéo đến trước cửa nhà của anh T5 thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau chửi bới, gây náo loạn tại khu vực dân cư sinh sống. Tiếp đó, Huỳnh Thanh Q khi nghe sự việc nên trên tay cầm một cây dao tự chế điều khiển xe máy chạy đến trước cửa nhà của anh T5 để bênh vực cho Bùi Tấn P, đồng thời cùng với Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 chửi bới, gây náo loạn tại khu vực dân cư sinh sống. Lúc này, anh Dương C hai cây dao và anh T5 cầm cây dá chạy ra ngoài chém qua lại với Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q nhưng không có ai bị thương tích. Tại thời điểm này, Nguyễn Hải T7 và Huỳnh Văn T8 uống nước gần đó nghe Bùi Tấn P đánh nhau, vì muốn bênh vực cho Bùi Tấn P nên Nguyễn Hải T7 kêu Huỳnh Văn T8 mở cốp xe ra lấy một khẩu súng bắn đạn cao su và điều khiển xe chở T7 đến nơi xảy ra sự việc. Khi xe dừng lại thì Nguyễn Hải T7 xuống và dùng súng bắn đạn cao su bắn hai phát về phía nhà anh T5, trong đó có một phát trúng vào chân bên phải của anh D gây thương tích và sau khi gây thương tích cho anh D thì Nguyễn Hải T7 kêu Huỳnh Văn T8 điều khiển xe bỏ chạy. Khi đó, Bùi Tấn P cùng với Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q dùng hung khí ném về phía anh T5 và anh D, trong đó Huỳnh Thanh Q dùng gạch, nón bảo hiểm ném trúng cằm và chân của anh T5 gây thương tích. Khi anh T5 và anh D chạy vào nhà thì Bùi Tấn P đến lấy xe Exciter mà anh T5 đã chạy về trước đó rồi cùng với Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q rời khỏi hiện trường. Đối với Nguyễn Hải T7, Huỳnh Văn T8 và Huỳnh Thanh Q sau khi sự việc xảy ra thì đến công an đầu thú.
Kết luận giám định số 182/KLTTCT-TTPY ngày 09/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh C đối với thương tích của Mai Hữu D gồm 01 vết thương và vết phẩu thuật 1/3 giữa mặt trong đùi phải kích thước 4cm X 0,3cm, tỷ lệ 2%.
Kết luận giám định số 5334/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận khẩu súng do Nguyễn Hải T7 dùng bắn vào chân của anh Mai Hữu D là công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí quân dụng.
Kết luận giám định số 183/KLTTCT-TTPY ngày 09/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh C đối với thương tích của Nguyễn Minh T5 gồm:
- Một vết xước da ở vùng trán phải kích thước 1,5cm X 0,1cm, không xếp tỷ lệ.
- Một vết xước da ở vùng trán trái kích thước 0,2cm X 0,2cm, tỷ lệ 3%.
- Một vết thương vùng môi dưới bên trái kích thước 3,5cm X 0,2cm, tỷ lệ 3%.
- Một vết xước da 1/3 trên mặt sau cánh tay trái kích thước 06cm X 0,1cm, tỷ lệ 3%.
- Một vết xước da ngang cán ức phải kích thước 05cm X 0,5cm, không xếp tỷ lệ.
- Một vết thương hình cung răng dưới xương bá vai phải trái kích thước 4,5cm X 04cm, tỷ lệ 2%.
- Một vết xước da vùng hông lưng phải kích thước 02cm X 0,2cm, không xếp tỷ lệ.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 8%.
Vật chứng, tài sản thu được gồm:
- Một điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, loại bàn phím, sim số 0944949444 thu giữ của Bùi Tấn P.
- Một điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím, sim số 0943576675 thu giữ của Trần Trường A.
- Một điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, sim số 0949777739 thu giữ của Huỳnh Văn T8.
- Một điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng, sim số 0949777738 thu giữ của Huỳnh Văn T8.
- Một điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, sim số 0943879879 thu giữ của Nguyễn Hải T7.
- Một cây dao dài 43cm bằng kim loại màu đen thu giữ của Nguyễn Minh T5.
- Một cây dao dài 41cm bằng kim loại màu đen thu giữ của Nguyễn Minh T5.
- Một quần Jean màu xanh cách đáy quần 12cm bị thủng một lỗ đường kích 1cm thu giữ của Mai Hữu D.
- Một cây dao tự chế dài 67cm bằng kim loại màu đen thu giữ của Bùi Tấn P.
- Một cây dao dài 45cm bằng kim loại màu đen thu giữ của Huỳnh Thanh Q.
- Một cây kéo dài 24cm bằng kim loại màu đen thu giữ của Nguyễn Hữu T1.
- Nhiều mảnh gạch ống bị vỡ vụn.
- Một cây dá bằng kim loại màu trắng dài 114cm, có cán dài 90cm, lưỡi dài 24cm do Mai Hữu D lấy từ quán A1.
- Một cây gậy bóng chày dài 67cm, đường kính 05cm bằng gỗ (không biết của ai).
- Một xe máy hiệu Airblade màu đen trắng đỏ không biển kiểm soát do Huỳnh Thị Kiều L3 (vợ của Huỳnh Văn T8) mua.
- Một nón bảo hiểm bằng nhựa màu trắng thu giữ của Huỳnh Thanh Q.
- Một lưỡi dao bằng kim loại màu trắng (do Bùi Tấn P và Nguyễn Minh T5 câu vật tại quán A1 bị gãy).
- Một phong bì được niêm phong có dấu tròn màu đỏ và tên chữ ký Lâm Tùng L4, Nguyễn Phương N1.
Bị cáo Bùi Tấn P và Huỳnh Thanh Q đã khắc phục cho anh T5 số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Thanh Q đã nộp 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả gây thương tích hiện được giao nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau quản lý.
Tòa án đã có Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 04/2023/HSST-QĐ ngày 05/12/2023 để xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án. Ngày 09/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã thay đổi cáo trạng và truy tố các bị cáo P, T1, Quyền tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và đã xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đối với hai bị cáo Nguyễn Hải T7 và Huỳnh Văn T8 đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên xử y án sơ thẩm.
Tại Bản Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố các bị cáo như sau:
Truy tố các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Truy tố các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát thay đổi một phần quan điểm truy tố đối với bị cáo T1, giữ quan điểm truy tố các bị cáo P, Quyền theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d và điểm h Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Tấn P từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Tấn P từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo P chấp hành hình phạt chung từ 02 năm 09 tháng đến 04 năm tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, điểm d Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 từ 02 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng Điều 155, 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Q chấp hành hình phạt chung từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Minh T5 giữ nguyên quan điểm rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thống nhất với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo P.
Các bị cáo Bùi Tấn P, Huỳnh Thanh Q, Nguyễn Hữu T1 thừa nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo Q, T1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T9, Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng đảm bảo thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc yêu cầu gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng được xác định là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q đều thừa nhận vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 06/8/2023 bị cáo P trên tay cầm một cây dao tự chế, bị cáo T1 cầm hai cây kéo và bị cáo Q cầm một cây dao tự chế thực hiện hành vi la lối, chửi bới gây náo loạn tại khu vực dân cư sinh sống. Bị cáo Huỳnh Thanh Q dùng gạch và nón bảo hiểm là loại hung khí nguy hiểm ném vào
người anh T5 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể gồm một vết thương vùng môi dưới bên trái kích thước 3,5cm X 0,2cm tại thời điểm giám định là 3%, bị cáo P dùng răng cắn vào người anh T5 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể gồm một vết thương hình cung răng dưới xương bả vai phải 4,5cm X 04cm tại thời điểm giám định là 2%, các thương tích còn lại của anh T5 là do trong quá trình câu vật giữa P và T5, quá trình xô xát, ném gạch ống giữa hai bên. Các thương tích còn lại được xác định trong quá trình câu vật giữa bị cáo P với anh T5 tạo nên, không liên quan đến bị cáo Q. Do đó, bị cáo Q chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích của anh T5 gồm một vết thương vùng môi dưới bên trái kích thước 3,5cm X 0,2cm tại thời điểm giám định là 3%.
[3] Xét lời nhận tội của các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q phù hợp với lời khai của bị hại cùng với lời khai của những người chứng kiến sự việc về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q cầm hung khí la lối, chửi bới, thách thức, làm ầm ĩ giữa đêm khuya, gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, quy tắc sinh hoạt ở khu dân cư, gây bức xúc trong nhân dân và chính quyền địa phương. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Hành vi của bị cáo Q đến bênh vực cho bị cáo P và nhiều lần dùng gạch, đá vĩa hè ném vào nhóm của T5 và một lần ném trúng cằm và đã gây thương tích cho anh T5 tỷ lệ 3%, bị cáo Bùi Tấn P có ý thức gây thương tích cho bị hại T5 ngay tại quán A1 khi dùng dao đâm vào người anh T5 nhưng không gây thương tích, tiếp tục dùng răng cắn vào người anh T5 gây thương tích tỷ lệ 2%, tại nhà anh T5 thì P cùng Q, T1 dùng dao tự chế, kéo đâm chém với nhóm của anh T5, bị cáo Nguyễn Hữu T1 khi nhận được điện thoại của P biết đến sẽ đánh nhau với nhóm của anh T5 nên đã chuẩn bị hai cây kéo và tại nhà anh T5 đã sử dụng kéo đâm, phóng kéo về nhóm của T5. Các bị cáo từ lúc đến nhà anh T5 đã có hành vi chửi bới, đâm chém, dùng gạch, đá ném vào nhóm anh T5 nhiều lần, trong thời gian dài, bị cáo P và T1 thấy bị cáo Q tham gia ném gạch, đá vào nhóm anh T5 nhưng không can ngăn mà còn cùng thực hiện dẫn đến thương tích của anh T5, bị cáo Q đến gây thương tích cho anh T5 cũng nằm trong ý thức của bị cáo P. Do đó, các bị cáo P, T1, Q thực hiện hành vi gây thương tích cho anh T5 với vai trò đồng phạm giản đơn, thực hiện hành vi bộc phát, không có sự phân công nhiệm vụ từng bị cáo. Hành vi của bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 đã cấu thành tội “Cố ý gây
thương tích” với vai trò đồng phạm cùng bị cáo Huỳnh Thanh Q được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự cho xã hội ở địa phương, vi phạm pháp luật hình sự cần phải được xử lý. Các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q đều nhận thức rõ việc cầm hung khí la lối, chửi bới, gây mất an ninh trật tự là vi phạm pháp luật thế nhưng với bản tính xem thường pháp luật nên các bị cáo đã bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1 và Huỳnh Thanh Q đều biết sức khoẻ của con người là vốn quý, không ai có quyền xâm hại một cách trách pháp luật nhưng chỉ vì muốn bênh vực và muốn thể hiện mình nên các bị cáo đã cố ý gây thương tích cho bị hại. Xét thấy, các bị cáo Bùi Tấn P, Nguyễn Hữu T1, Huỳnh Thanh Q đều đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do chính các bị cáo gây ra.
[5] Xét vai trò, tính chất, mức độ, nhân thân của từng bị cáo:
[5.1] Các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm thực hiện hành vi la lối, chửi bới, gây náo loạn tại khu vực dân cư sinh sống là xâm hại đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống, xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, hành vi của các bị cáo công khai ở nơi đông người, biểu hiện ý thức xem thường pháp luật và hành vi đó đã là tình tiết định tội của tội danh gây rối trật tự công cộng nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” theo điểm d khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo. Bị cáo Q là người trực tiếp thực hiện hành vi dùng gạch, đá gây thương tích cho anh T5 tỷ lệ 3%, bị cáo P gây thương tích cho anh T5 tỷ lệ 2%, không phải từ hung khí nguy hiểm gây ra và tỷ lệ tổn thương cơ thể được giám định không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng như phân tích trên, bị cáo T1 không gây thương tích cho anh T5 nhưng bị cáo P, bị cáo T1 có ý thức cùng với bị cáo Q thực hiện hành vi gây thương tích cho anh T5 với vai trò đồng phạm như phân tích trên. Hành vi gây thương tích xuất phát từ bị cáo P tại quán A1 và bị cáo tiếp tục cùng bị cáo Q, T1 đến nhà của anh T5 và tại đây bị cáo Q đã gây thương tích cho anh T5 nằm trong ý thức bị cáo P do đó bị cáo P phải chịu hình phạt cao hơn so với bị cáo Q là phù hợp. Bị cáo P vào năm
2012, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 30/9/2016 nhưng phần dân sự chưa thực hiện. Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án năm 2018 nên lần phạm tội này phải áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục một phần hậu quả về tội “Cố ý gây thương tích”, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 và bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T1 có ông nội là người có công cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Q đầu thú và đã khắc phục một phần hậu quả về tội “Cố ý gây thương tích” nên bị cáo Q được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1 là chưa phù hợp do bị cáo không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và chưa phù hợp tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra là ảnh hưởng lớn đến trật tự địa phương nên không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[5.2] Hành vi gây rối trật tự công cộng xảy ra xuất phát từ mâu thuẫn của bị cáo P, đối với bị cáo T1 thống nhất cùng thực hiện tội phạm gây rối trật tự công cộng với bị cáo P vì chính bị cáo T1 là người trực tiếp chở bị cáo P đến nhà của anh T5 và sau đó xảy ra sự việc gây rối. Bị cáo Q không đồng phạm với bị cáo P và bị cáo T1, bị cáo Q thực hiện hành vi độc lập do giữa bị cáo Q với bị cáo P và bị cáo T10 đều không có liên lạc với nhau để cùng đến nhà của anh T5, việc bị cáo Q đến nhà của anh T5 là do bộc phát, tự ý nên cần xử phạt bị cáo T1 và bị cáo Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” thấp hơn so với bị cáo P là phù hợp. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử phạt đối với bị cáo P, bị cáo T1 và bị cáo Q để nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phục vụ công tác phòng chống tội phạm.
Bị cáo P, bị cáo Q phạm nhiều tội nên cần tổng hợp buộc bị cáo P, bị cáo Q chấp hành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
[6] Ngày 18/11/2024, bị hại là anh Nguyễn Minh T5 đã có Đơn xin rút yêu cầu khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1. Do đó, áp dụng
Điều 155, 282 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
[7] Đối với hai bị cáo Nguyễn Hải T7 và Huỳnh Văn T8 đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên y mức án sơ thẩm nên không đặt ra xem xét.
[8] Đối với Trần Trường A không có liên quan đến vụ án nên không xem xét xử lý. Bị hại Nguyễn Minh T5 đã lấy xe của P chạy đi trình báo nhưng trước khi đi T5 có báo cho anh Nguyễn Văn T6, chị Phạm Thị N là chủ và nhân viên của quán A1, sau đó T5 có gọi điện cho anh L2 là Trưởng công an thị trấn S nhưng không gọi được. Vì vậy, T5 không có mục đích chiếm đoạt xe của P nên không xử lý là có căn cứ.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, các bị cáo thống nhất không thay đổi ý kiến và đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nên không đặt ra xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nên không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, đối với vật chứng là “nhiều mảnh gạch ống bị vỡ vụn” chưa được xử lý và đây là vật chứng không còn giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo, bị hại phải chịu theo quy định.
[12] Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Tấn P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Tấn P 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Tấn P phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ ngày 09/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Thanh Q phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ ngày 08/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ 09/8/2023.
Căn cứ Điều 155, 282 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy nhiều mảnh gạch ống bị vỡ vụn.
Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Bùi Tấn P, bị cáo Nguyễn Hữu T1, bị cáo Huỳnh Thanh Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Bị hại Nguyễn Minh T5 phải chịu 200.000 đồng.
Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN |
Huỳnh Văn Đoan |
Nơi nhận:
TÒA
- - TAND tỉnh Cà Mau;
- - VKSND tỉnh Cà Mau;
- - VKSND huyện Trần Văn Thời;
- - CAND huyện Trần Văn Thời;
- - CCTHADS huyện Trần Văn Thời;
- - Các bị cáo;
- - Bị hại;
- - Lưu hồ sơ vụ án; văn thư.
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2024.
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh.
Ông Huỳnh Văn Tới.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ hay trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Không.
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp: Hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
3. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Tấn Phi 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Tấn Phi 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Tấn Phi phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ ngày 09/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Quyền 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Quyền 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Thanh Quyền phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ ngày 08/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Tín 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ 09/8/2023.
Căn cứ Điều 155, 282 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Hữu Tín về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
5. Bị cáo thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt: Không
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
6. Các vấn đề khác:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy nhiều mảnh gạch ống bị vỡ vụn.
Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Bùi Tấn Phi, bị cáo Nguyễn Hữu Tín, bị cáo Huỳnh Thanh Quyền, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Bị hại Nguyễn Minh Thi phải chịu 200.000 đồng.
Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
7. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an, của Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đảm bảo đúng pháp luật.
Kết quả biểu quyết: 3/3 ý kiến thống nhất.
8. Về các vấn đề khác: không
Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 12 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Văn Tới Hồ Quang Minh |
Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phi 02 năm 03 tháng tù
