|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST
Ngày 05/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Quang.
Ông Danh Đẹp.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Bà Danh Nguyễn Thúy Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐHS-ST ngày 19/11/2024 đối với bị cáo:
Phạm Khưu Khánh D, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2005.
Nơi sinh: tại Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Hoài V, sinh năm: 1984 và con bà Khưu Mộng Tuyền P, sinh năm: 1987. Anh chị em ruột có 02 ngươi, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2010. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Kiên Giang từ ngày 15/6/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Hồ Thị Bé H, sinh năm 2006. Địa chỉ: Ấp H, xã M, C, Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Võ Văn V1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện C, Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Danh Anh K, sinh ngày 14/3/2009. Địa chỉ: Ấp M, xã M, C, Kiên Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Danh Hồng Đ, sinh năm 1983 và bà Thị P1, sinh năm: 1986. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, C, Kiên Giang (có mặt).
* Người làm chứng:
A2 (vắng mặt).
2/ Anh Phan Văn H1 (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, Phạm Khưu Khánh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY không gắn biển số, chở Danh A Khoa đến nhà của Nguyễn Trí A1 để nhậu (uống bia). Tại nhà A1, D, K cùng một số người bạn của A1 uống được khoảng 02 thùng bia thì lúc này Phan Văn K1 (đang ngồi nhậu chung) kêu D đi lấy ma tuý dùm cho K1 thì D đồng ý, K1 đưa cho D 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để lấy ma túy và cho D 30.000₫ (Ba mươi nghìn đồng) để đổ xăng, đồng thời K1 chỉ cho D biết địa điểm để đi lấy ma túy. D chở K (D rủ K đi chung) đến gần trụ sở Công an thị trấn M cũ thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang thì gặp một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ), D nghĩ là người bán ma túy nên D đưa cho người này 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), người này đưa cho D 01 (một) bịch nylon trong suốt, hàn kín, kích thước 01cm x 2,7cm, bên trong bịch nylon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất là ma túy, D cất vào trong ốp lưng điện thoại di động mà D đang xài rồi D chở K về nhà của A1 để nhậu tiếp. Khi về tới nhà A1, thấy K1 đã ngủ say nên D chưa đưa ma tuý cho K1, D và K tiếp tục uống thêm khoảng 03 lon bia thì D nói với K “giờ này hoả quá đi đá xe kiếm tiền xài” thì K đồng ý. Sau đó, D chở K đi từ Giục Tượng về hướng B tìm xe để trộm, khi đến khu vực nhà lựa số 03, cảng cá T thuộc ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thì dừng lại, D đứng canh đường còn K xuống xe và đi đến khu vực đậu xe rồi ngồi lên 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, WAVE, màu trắng bạc, biển đăng ký số 68X1-639.33, số máy JA39E3086208, số khung RLHJA392XPY465193 của chị Hồ Thị Bé H đang đậu ở đó và không có người trông giữ. Lúc này, K nháy mắt ra hiệu cho D quay đầu xe lại sẵn sàng lấy trộm chiếc xe, khi K vừa dắt xe ra khỏi nhà lựa thì bị người dân phát hiện bắt quả tang D và K giao Công an huyện C xử lý.
Lực lượng Công an huyện C kiểm tra điện thoại của D thì phát hiện bịch ma túy D đang cất giữ nên lập biên bản theo quy định.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra Phạm Khưu Khánh D còn khai nhận: Vào khoảng 04 giờ ngày 31/01/2024, D cùng K điều khiển xe mô tô không gắn biển đăng ký của D qua cầu C, đi về hướng xã V lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, WAVE ALPHA, màu xanh bạc, biển đăng ký số 68C1-483.28, số máy JA39E0815278, số khung RLHJA390XHY835123 của ông Võ Văn V1 đang đậu trước sân nhà của ông Lâm Hoàng H2, thuộc ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang mang về nhà của người tên P2 ở thị trấn M kêu P2 đem bán và đưa tiền cho D được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), đưa cho K được 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 595/KL-KTHS ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận giám định như sau:
Các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt, hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1206 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận:
01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng bạc, biển kiểm soát 68X1-639.33, số máy JA39E3086208, số khung RLHJA392XPY465193, đã qua sử dụng, mua tháng 11/2023, vào thời điểm tháng 6/2024 có giá là 17.882.500 đ (Mười bảy triệu tám trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 04/7/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận:
01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu xanh bạc, biển kiểm soát 68C1-483.28, số máy JA39E0815278, số khung RLHJA390XPY835123, đã qua sử dụng, mua tháng 01/2019, vào thời điểm tháng 01/2024 có giá là 9.853.300 đồng (Chín triệu năm trăm tám mươi ba nghìn ba trăm đồng).
* Về vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu trắng bạc, biển kiểm soát 68X1-639.33, số máy JA39E3086208, số khung RLHJA392XPY465193, đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây cờ lê có ký hiệu 8CR-VUSA8, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7plus màu đen, model A1661FCCID BCGE3087AIC579C-E3087A, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng.
- 01 (một) phong bì thư ký hiệu vụ số 01/2024 có chữ Công an tỉnh K, Phòng K2, niêm phong mẫu vật, vụ số 636/2024 ngày 21/6/2024, người chứng kiến Trần Hồng L, giám định viên Lê Đức H3, đóng dấu tròn đỏ nội dung Phòng K2 Công an tỉnh K, bên trong có chứa 01 (một) túi niêm phong mã số NS4 2148999 và 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1083g.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Hồ Thị Bé H đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Anh Võ Văn V1 yêu cầu bồi thường số tiền 9.583.300 đồng, tương đương giá trị định giá chiếc xe do tài sản không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số: 103/CT- VKS-CT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phạm Khưu Khánh D về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với tội danh nêu trên và đề nghị HĐXX áp dụng:
- Đối với tội Vận chuyển trái phép chất ma túy: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 và 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Khưu Khánh D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Đối với tội Trộm cắp tài sản: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Khưu Khánh D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của cả hai tội xử phạt bị cáo Phạm Khưu Khánh D từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự, xử buộc bị cáo Phạm Khưu Khánh D và anh Danh A K cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 là người đại diện hợp pháp của anh Danh A Khoa liên đới bồi thường cho anh Võ Văn V1 số tiền 9.583.300 đồng.
Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả cho chị Hồ Thị B Huỳnh 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng (đã trả xong).
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) cây cờ lê có ký hiệu 8CR-VUSA8, đã qua sử dụng do không sử dụng vào mục đích trộm (đã trả xong).
- Trả lại cho chị Khưu Mộng Tuyền P: 01 (một) điện thoại di động Iphone 7plus màu đen, model A1661FCCID BCGE3087AIC579C-E3087A, đã qua sử dụng (đã trả xong).
- Tịch thu sung quỹ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng.
- Truy thu số tiền thu lợi bất chính từ hành vi trộm cắp tài sản và Vận chuyển trái phép chất ma túy:
- Số tiền 530.000 đồng đối với bị cáo Phạm Khưu Khánh D.
- Số tiền 600.000 đồng đối với anh Danh Anh K.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao gói thuốc lá nhãn hiệu Hero; 01 (một) bịch nylon màu trắng và nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất còn lại sau khi giám định có khối lượng là 0,1897 gam, được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 71/2023 ngày 27/01/2023, người chứng kiến Lê Văn L1, giám định viên Lê Đức H3, hình dấu tròn của Phòng K2 - Công an tỉnh K.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường cho anh Võ Văn V1 và đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 530.000 đồng nhưng hiện nay chưa có tiền để bồi thường và giao nộp.
Tại phiên tòa: Anh Danh Anh K và người đại diện hợp pháp của anh K đồng ý bồi thường cho anh Võ Văn V1 và đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 600.000 đồng nhưng hiện nay chưa có tiền để bồi thường và giao nộp.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, Phạm Khưu Khánh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY không gắn biển số, chở Danh A Khoa đến gần trụ sở Công an thị trấn M cũ thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang gặp người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) để lấy ma túy giùm cho Phan Văn K1. Theo kết luận giám định khối lượng ma túy là 0,1206 gam, loại Methamphetamine. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 15/6/2024, Phạm Khưu Khánh D tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở Danh A Khoa đến khu vực Cảng cá T lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, WAVE, màu trắng bạc, biển kiểm soát 68X1-639.3. Theo kết luận định giá có giá trị là 17.882.500 đồng của chị Hồ Thị Bé H, tại ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, bị cáo còn khai nhận: khoảng 04 giờ ngày 31/01/2024, D cùng Danh A Khoa còn lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, WAVE ALPHA, màu xanh bạc, biển đăng ký số 68C1-483.28. Theo kết luận định giá có giá trị là 9.853.300 đồng của ông Võ Văn V1, tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Từ những quy định pháp luật nêu trên cho thấy hành vi của bị cáo Phạm Khưu Khánh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 và tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại nguy hiểm cho sức khoẻ của con người và cũng là nguyên nhân phát sinh ra các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm dân sự và nhận thức rõ hành vi của mình bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bên cạnh đó, bị cáo còn rủ rê anh Danh A Khoa là người chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người trưởng thành có đủ nhận thức biết rỏ việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn tạo tâm lý bất an cho người dân tại địa phương, gây mất an ninh trật tự nơi xảy ra vụ án. Với hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ:
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo cũng tự thú hành vi phạm tội của mình trước đó mà chưa bị phát hiện đối với tội Trộm cắp tài sản nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX nghị án sẽ xem xét hình phạt khi lượng hình đối với từng bị cáo để có mức án phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo chở thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ đúng pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
[7.1] Chị Hồ Thị Bé H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét
[7.2] Anh Võ Văn V1 yêu cầu bồi thường số tiền 9.583.300 đồng.
Tại phiên tòa: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Danh A Khoa cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 là người đại diện hợp pháp của anh Danh A K đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh V1 nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chưa khả năng bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo và anh Danh A Khoa cùng ông Danh Hồng Đ, bà Thị P1 là người đại diện hợp pháp của anh Danh A Khoa phải có trách nhiệm bồi thường cho anh V1 số tiền 9.583.300 đồng đồng là có cơ sở. Cụ thể như sau:
- Bị cáo bồi thường cho anh Võ Văn V1 số tiền 4.791.650 đồng.
- Anh Danh Anh K cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 bồi thường cho anh Võ Văn V1 số tiền 4.791.650 đồng.
[8] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng là tài sản của bị hại; 01 (một) cây cờ lê có ký hiệu 8CR-VUSA8, đã qua sử dụng do không sử dụng vào mục đích trộm và 01 (một) điện thoại di động Iphone 7plus màu đen, model A1661FCCID BCGE3087AIC579C-E3087A, đã qua sử dụng không dùng vào việc phạm tội đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp.
[8.2] Đối với 01 (một) phong bì thư ký hiệu vụ số 01/2024 có chữ Công an tỉnh K, Phòng K2, niêm phong mẫu vật, vụ số 636/2024 ngày 21/6/2024, người chứng kiến Trần Hồng L, giám định viên Lê Đức H3, đóng dấu tròn đỏ nội dung Phòng K2 Công an tỉnh K, bên trong có chứa 01 (một) túi niêm phong mã số NS4 2148999 và 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 0,1083gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần xử tịch thu tiêu huỷ.
[8.3] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng là phương tiện dùng vào việc phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung vào công quỹ.
[8.4] Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy là 30.000 đồng và hành vi trộm cắp tài sản là 500.000 đồng của bị cáo Phạm Khưu Khánh D và số tiền 600.000 đồng từ hành vi trộm cắp tài sản của anh Danh Anh K. Đây là số tiền có được từ hành vi phạm tội nên buộc bị cáo và anh Danh A Khoa phải giao nộp để tịch thu sung quỹ. Cụ thể: Bị cáo phải nộp lại số tiền là 530.000 đồng và anh Danh A K phải nộp lại số tiền là 600.000 đồng.
[9] Về những vấn đề khác:
Đối với Phan Văn K1, là người kêu bị can D đi lấy ma túy giùm, hiện tại đã đi khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C không thể triệu tập đối tượng để làm việc, do đó sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người thanh niên giao ma túy cho bị can, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không tiến hành triệu tập làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với Nguyễn Thanh P2 quá trình điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện sẽ tiếp tục xác minh làm rõ khi nào có căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Danh Anh K cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng do K chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự nên không đủ cơ sở xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đề nghị xử phạt hành chính theo quy định.
[10] Về án phí:
Xử buộc bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Danh A Khoa cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 là người đại diện hợp pháp của anh Danh A Khoa phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Khưu Khánh D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Khưu Khánh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phạm Khưu Khánh D 02 (hai) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt bị cáo Phạm Khưu Khánh D 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo bồi thường cho anh Võ Văn V1 số tiền 4.791.650 đồng.
- Anh Danh Anh K cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 bồi thường cho anh Võ Văn V1 số tiền 4.791.650 đồng.
- Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, màu trắng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư ký hiệu vụ số 01/2024 có chữ Công an tỉnh K, Phòng K2, niêm phong mẫu vật, vụ số 636/2024 ngày 21/6/2024, người chứng kiến Trần Hồng L, giám định viên Lê Đức H3, đóng dấu tròn đỏ nội dung Phòng K2 Công an tỉnh K, bên trong có chứa 01 (một) túi niêm phong mã số NS4 2148999 và 01 (một) bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1083. bạc, số máy 00066264, số khung 1102015, không gắn biển số, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo là 530.000 đồng và anh Danh A Khoa là 600.000 đồng. Cụ thể: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền là 530.000 đồng và buộc anh Danh A K phải nộp lại số tiền là 600.000 đồng.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Phạm Khưu Khánh D phải chấp hành là 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 15/6/2024.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử :
Buộc bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Danh A Khoa cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 là người đại diện hợp pháp của anh Danh A Khoa phải có trách nhiệm bồi thường cho anh V1 số tiền 9.583.300 đồng. Cụ thể như sau:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 77/QĐ-VKS-CT ngày 10/10/2024 3 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Danh Anh K cùng ông Danh Hồng Đ và bà Thị P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Lê Thị Thanh Thảo |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về vận chuyển trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Khưu Khánh D
