Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 875/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện (nay là thị xã) Tân Châu, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn Q, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ấp Ông T, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Ấp L, xã L, huyện (nay là thị xã) Tân Châu, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn Q, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày:

Bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn G chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện (nay là thị xã) T, tỉnh An Giang vào năm 2006 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 136 ngày 26/10/2006. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn bà X nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Lý do: Ông G thường xuyên rượu chè, đá gà, chơi tài xỉu. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau. Do đó, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà X khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông G. Hiện tại, bà X và ông G không còn sống chung nhà và đã ly thân khoảng 07 năm nay. Bà X và cháu H ở trọ tại: Số nhà A, ấp Ô T, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương, còn ông G và cháu H1 sống ở nhà trọ Nguyễn Văn Q, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Về con chung: Bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn G có 02 người con chung tên: Nguyễn Hữu H, sinh năm 2001 và Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị X không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn G trình bày: Ông G thống nhất lời trình bày của nguyên đơn bà X về thời gian kết hôn, con chung, nợ chung và tài sản chung cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn ông G nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau, không còn sống chung nhà và đã ly thân khoảng 07 năm nay. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông G đồng ý ly hôn với bà X.

Về con chung: Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông G không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

- Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp ly hôn và nuôi con, bị đơn có nơi cư trú khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về chứng cứ: Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai giao nộp và tiếp cận chứng cứ ngày 18/11/2024, gửi kết quả cho các đương sự nhưng không ai có ý kiến thắc mắc, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác, ngoài chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập được làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Phạm Thị X và bị đơn ông Nguyễn Văn G trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện (nay là thị xã) T, tỉnh An Giang vào năm 2006 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 136 ngày 26/10/2006. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn bà X và bị đơn ông G là hôn nhân hợp pháp.

Bà X trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau dẫn đến thường xuyên cải vã. Gia đình hai bên nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, hôn nhân không còn hành phúc. Hiện tại, bà X và ông G không còn sống chung nhà và đã ly thân từ khoảng 07 năm nay.

Xét thấy, để có căn cứ xác định lời trình bày của bà X về trình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và sinh sống của bà X và ông G, về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ, vì khi xảy ra mâu thuẫn cả hai không báo địa phương để tổ chức hòa giải. Tuy nhiên, tại Bản tự khai của ông Nguyễn Văn G đề ngày 06/11/2024, ông G cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng và xác định vợ chồng đã sống ly thân khoảng 07 năm nay. Ngoài ra, tại bản tự khai của 02 người con chung của bà X và ông G là ông Nguyễn Hữu H và Nguyễn Văn H1 đề ngày 06/11/2024, cũng xác nhận bà X và ông G thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã và đã sống ly thân khoảng 07 năm nay. Tòa án đã tiến hành triệu tập bà X và ông G để tổ chức hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông G không tham gia hòa giải đoàn tụ gia đình và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng bà X và ông G có 02 người con chung tên: Nguyễn Hữu H, sinh năm 2001 và Nguyễn Văn H1, sinh năm 2002. Con chung đã trưởng thành, bà X và ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyế.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà X và ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X đối với bị đơn ông Nguyễn Văn G về việc: “Ly hôn”.
    • - Về hôn nhân: Bà Phạm Thị X được ly hôn ông Nguyễn Văn G.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 136 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện (nay là thị xã) Tân Châu, tỉnh An Giang cấp ngày 26/10/2006 cho bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn G không còn giá trị pháp lý.

    • - Về con chung: Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Phạm Thị X nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24 số 0005727 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Bến Cát;

- Chi cục THADS thành phố Bến Cát;

- UBND xã Long Phú, huyện (nay là thị xã) Tân Châu, tỉnh An Giang;

- Các đương sự;

- Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 107/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger