|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt
Bà Lê Thị Minh Khánh
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 27/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Dương Khánh H, sinh ngày 13/9/2008; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 8/12; Họ tên bố: Dương Tuấn Lâm sinh năm 1977 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Dương Nguyễn Lan A, sinh ngày 07/6/2009; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên bố: Dương Ngô T, sinh năm 1979; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Lương Công Tuấn A1, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: Số C đường T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Lương Công T2, sinh năm 1966; Họ tên mẹ: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1972; Vợ: Hoàng Thị N1, sinh năm 2002; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị cáo Ngô Thị T3, sinh năm 1997; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên bố: Ngô Văn N2, sinh năm 1973; Họ tên mẹ: Ngụy Thị T4, sinh năm 1975; Chồng: Tống Kim H1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 22/12/2023, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt).
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Dương Khánh H: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Dương Nguyễn Lan A: Ông Dương Ngô T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (ông T vắng mặt, bà T1 có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Khánh H:
- Luật sư Phạm Văn B - Văn phòng luật sư Phạm Xuân A2 - Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).
- Bà Giáp Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Dương Nguyễn Lan A:
- Luật sư Trần Văn A3 và Luật sư Nguyễn Thị H3 - Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số E, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Luật sư A3 vắng mặt luật sư H3 có mặt)
- Bà Giáp Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị T3: Bà Thân Thị Thúy V - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. ( xin vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị A4, sinh năm 1994; địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Duy H4, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Xuân T5, sinh năm 1989; địa chỉ: Số C ngã 4 N, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Ngọc T6, sinh năm 2006; địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đình S, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Chị Lò Thị Q sinh năm 2002; Trú tại: Bản C, xã N. Xã S, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N3; Trú tại: Tổ dân phố B,thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 50 phút ngày 16/12/2023, tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B kiểm tra hành chính quán K ở tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang do Nguyễn Minh H5, sinh năm 1989 ở cùng địa chỉ trên làm chủ. Khi kiểm tra, tại quầy lễ tân có Dương Khánh H, sinh ngày 13/9/2008, trú tại thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Lò Thị Q, sinh năm 2002, trú tại Bản C, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Vật chứng thu giữ:
- Dương Khánh H tự nguyện giao nộp 01 hộp bìa cát tông màu tím, bên trong đựng:
- + 03 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh lam, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trong đó có 02 túi nilon mỗi túi đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và 01 túi nilon đựng 02 viên nén hình tròn màu hồng đỏ;
- + 21 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, trong mỗi túi đều đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và tinh thể màu trắng;
- + 02 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng;
- + 14 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ;
- + 16 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng đỏ;
- + 26 viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 viên nén hình tròn màu xanh và 44 viên nén màu trắng.
Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”. H khai đây là ma tuý do Nguyễn Minh H5 và Nguyễn Thị T7 (vợ H5) đưa cho H để bán cho khách.
- Thu giữ trong túi áo khoác bên trái của Lò Thị Q 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Khánh H, Lò Thị Q, Lương Công Tuấn A1 và Ngô Thị T3 về hành vi mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Kiểm tra tại phòng V1, phát hiện trong phòng có: Lương Công Tuấn A1, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y; Ngô Thị T3, sinh năm 1997, trú tại thôn H, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Xuân T5, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng và Phạm Thị Ngọc T6, sinh ngày 07/3/2006, trú tại Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thu giữ trên mặt bàn thứ 4 từ cửa vào: 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt có chất tinh thể màu trắng, 01 ống hút nhựa, 01 thẻ ngân hàng và 01 túi nilon màu trắng. Tổ công tác cho chất tinh thể màu trắng vào túi nilon, niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT2”, các đồ vật còn lại niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT3”. Tuấn A1 và T3 khai vừa mua ma tuý của H để cho mọi người trong phòng sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ 03 thẻ nhớ và 08 chiếc điện thoại di động các loại.
Ngày 17/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp quán K, thu giữ 01 bếp ga, 01 máy bán hàng cầm tay và một số giấy tờ khác. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Minh H5 và Nguyễn Thị T7 nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Kết luận giám định số 2532 ngày 22/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- * Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 hộp cát tông màu tím:
- - Chất tinh thể màu trắng và 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh lam đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,557 gam.
- - Chất tinh thể màu trắng và 21 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 21 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 5,987 gam.
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh đều là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,243 gam.
- - Chất tinh thể màu trắng và 14 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 14 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 7,575 gam.
- - Chất tinh thể màu trắng và 32 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 16 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 8,220 gam.
- - 26 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và 01 viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 2,737 gam.
- - 44 viên nén màu trắng đều là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 14,191 gam.
- - Trong 01 túi nilon màu xanh có chất ma túy bám dính, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- * Trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,392 gam.
- * Trong 01 phong bì ký hiệu “QT2” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng (dạng tinh thể) là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,242 gam.
- * Trong 01 phong bì ký hiệu “QT3” được niêm phong gửi giám định: Trên 01 đĩa sứ màu trắng, trên 01 thẻ ngân hàng, trên 01 ống hút bằng nhựa và trong 01 túi nilon màu trắng có chất ma túy Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau:
Dương Khánh H và Dương Nguyễn Lan A được vợ chồng H5 thuê làm nhân viên phục vụ quán Karaoke 196. H được H5 giao quản lý quán khi H5 đi vắng. Quá trình kinh doanh Karaoke, H5 đã thực hiện hành vi bán ma tuý và tổ chức cho khách sử dụng ma tuý tại phòng hát để thu lợi. H5 bố trí sử dụng 01 máy thanh toán hóa đơn cầm tay, trong máy cài đặt sẵn giá bán các mặt hàng, trong đó có cả ma tuý. H5 hướng dẫn H cách mở máy, nhập các thông tin mặt hàng đã cài đặt sẵn trong máy, khách sử dụng loại nào thì H chỉ việc chọn vào loại đó. Đồng thời, H5 nói cho H biết có ma tuý chia sẵn để trong hộp giấy ở bàn quầy lễ tân, nếu khách đến hát có nhu cầu mua ma tuý thì bán. Ma túy gồm nhiều loại và được lưu trong máy thanh toán như: “kem” tức ma tuý Ketamine, “cúc” tức ma tuý tổng hợp dạng kẹo, “bóng smile” tức là bóng cười. Giá bán: 350.000 đồng/01 viên ma tuý “kẹo”, 1.200.000 đồng/01 chỉ ma tuý Ketamine, 300.000 đồng đến 500.000 đồng/ 1 túi ma tuý “đá”, “ngựa”. Số tiền mua ma tuý sẽ được tính vào hoá đơn khi thanh toán phòng hát, H nhận tiền và đưa lại cho H5 hoặc khách trực tiếp chuyển khoản trả cho H5.
H khai buổi tối ngày 16/12/2023, H được T7 đưa cho 01 túi ma tuý đá-ngựa (gồm một ít ma tuý đá và 01 viên ma tuý hồng phiến) để bán. H đưa lại cho Lan A và bảo lúc nào có khách đến lấy thì đưa cho khách. Sau đó, Nguyễn Duy H4, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố C, thị trấn P đến quán hỏi mua ma tuý thì Lan A đưa cho H4 túi ma tuý này. H4 trả Lan A 300.000 đồng; Lan A cầm tiền rồi đưa lại cho H.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Tuấn Al cùng Nguyễn Xuân T5 và Nguyễn Đình S, sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố H, thị trấn C, huyện T đến quán K hát thì được H5 bố trí vào phòng Vip 4. H5 gọi T3, T6 và Trần Thị A4, sinh năm 1994, trú tại bản Chàm, xã T, huyện Y đến quán phục vụ rót bia. Trong quá trình hát, Tuấn A1 bảo T3 lấy cho 03 viên ma tuý kẹo để mọi người sử dụng. T3 đi ra bảo H thì được H lấy từ trong hộp cát tông trên bàn quầy 03 viên ma tuý kẹo đưa cho T3. T3 mang ma tuý vào phòng hát, lấy 01 viên ma tuý nghiền nhỏ cho vào cốc rồi đổ nước C vào hoà tan. Sau đó, Tuấn A1, T5, S, T3 và T6 lần lượt uống cốc nước này. T3 tiếp tục bẻ đôi 01 viên ma tuý kẹo, T3 tự sử dụng nửa viên, còn nửa viên đưa cho Trần Thị A4 sử dụng. Còn lại 01 viên T3 đưa cho Trần Thị A4 bảo nghiền nhỏ ra. Trần Thị A4 cho viên ma tuý vào tờ giấy ăn, dùng lon Cocacola nghiền nhỏ ma tuý rồi đưa lại cho T3, sau đó đi ra ngoài ngồi. T3 cho số ma tuý này vào cốc nước Cocacola để bản thân và mọi người cùng sử dụng như lần trước.
Nguyễn Đình S hát và sử dụng ma tuý được một lúc thì đi về trước. Trong phòng chỉ còn Tuấn A1, T3, T5 và T6. Tuấn A1 bảo T3 lấy thêm 01 chỉ ma tuý ke. T3 đi ra bảo H thì H nói cứ vào phòng, H sẽ mang ma tuý vào sau. Do ở quán hết ma tuý Ketamine nên H bảo Lan A sang nhà H5 lấy. Lan A khai khi đi sang nhà H5 thì gặp T7 và được T7 đưa cho khoảng 2-3 chỉ ma tuý Ketamine. Lan A mang về quán đưa cho H, H đưa lại cho Lan A 01 túi ma tuý Ketamine để Lan A mang vào phòng Vip 4 đưa cho T3. T3 cầm ma tuý xuống khu vực bếp đổ ra đĩa sứ, hơ nóng, dùng thẻ cứng miết rồi kẻ thành các đường (xào ke) và mang ma tuý vào phòng để mọi người sử dụng. Đến khoảng 00 giờ ngày 17/12/2023 thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Sau khi phạm tội, Nguyễn Minh H5 vắng mặt tại địa phương. Ngày 08/7/2024, Cơ quan điều tra có quyết định tách vụ án hình sự đối với H5 để điều tra, xử lý bằng vụ án khác.
Đối với Nguyễn Thị T7 hiện không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của Lan A về việc được T7 đưa ma tuý Ketamine để mang về quán Karaoke đưa cho H bán không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xem xét, xử lý.
Đối với Trần Thị A4 được Ngô Thị T3 đưa cho 01 viên nén bảo nghiền nhỏ nhưng A4 không biết viên nén là ma tuý và không chứng kiến mọi người sử dụng ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trần Thị A4 là có căn cứ.
Đối với Lò Thị Q có hành vi tàng trữ 0,392 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng, chưa đủ lượng truy cứu trách nhiệm hình sự; Nguyễn Xuân T5, Nguyễn Đình S, Phạm Thị Ngọc T6 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 04/7/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q, T5, S và T6 về hành này.
Về vật chứng, tài sản thu giữ, kết quả điều tra xác định: 01 điện thoại Iphone XS Max của H, 01 điện thoại Iphone 6s của Lan A dùng vào việc phạm tội. 01 điện thoại Iphone 8 của Tuấn A1, 01 điện thoại Iphone 8 của T3, 01 điện thoại Iphone 11 của T6, 01 điện thoại Iphone XS Max của T5, 01 điện thoại Iphone của Q không liên quan đến vụ án. Ngày 04/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho Q và T6. Số vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định và những đồ vật, tài sản khác được nhập kho vật chứng theo quy định.
* Tại phiên toà sơ thẩm: các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố là đúng, không oan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kết luận và đề nghị:
- - Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Dương Khánh H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ đi 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Dương Nguyễn Lan A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lương Công Tuấn A1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2023.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Ngô Thị T3 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2023.
- - Về xử lý tài sản, vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 05 phong bì bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 02 vỏ lon nước ngọt nhãn hiệu cocacola.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone của H và 01 điện thoại Iphone của Lan A
- + Trả lại Lương Công Tuấn A1 01 điện thoại Iphone nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại Ngô Thị T3 01 điện thoại Iphone. Trả lại Nguyễn Xuân T5 01 điện thoại Iphone XS Max
- - Về án phí: Áp dụng Điều 135 BLTTHS buộc bị cáo Tuấn A1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Dương Nguyễn Lan A, Dương Khánh H, Ngô Thị T3.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo H tranh luận: Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, về hành vi, tội danh không có ý kiến tranh luận gì. Do bị cáo là Người chưa thành niên nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình học tập có nhiều thành tích, đề nghị xem xét xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo Lan A tranh luận: Nhất trí với ý kiến của đại diện viện kiểm sát về hành vi, tội danh, tình tiết tặng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lan A mới 14 tuổi. Đề nghị áp dụng quy định chương xét xử đối với người dưới 18 tuổi xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
* Trợ giúp viên pháp lý Giáp Thị H2 bào chữa cho bị cáo H và bị cáo Lan A: Nhất trí với phần bào chữa của luật sư B và luật sư H3. Trong vụ án này bị cáo H và Lan A đều bị vợ chồng anh H5 lợi dụng sử dụng vào việc phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất như đề nghị của luật sư B và luật sư H3.
Bị cáo H, Lan A nhất trí với ý kiến tranh luận của người bào chữa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H và bị cáo Lan A đều đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm
* Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đều xin hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tính hợp pháp của hoạt động tố tụng: Căn cứ vào nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; các bị cáo, Luật sư bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [3]. Về tội danh của các bị cáo HĐXX thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ hành vi của bị cáo Dương Khánh H, bị cáo Dương Nguyễn Lan A ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo H, Lan A còn hành vi khác theo quy định của Bộ luật hình sự được coi là tội phạm mà cơ quan điều tra chưa xem xét xử lý. Kết quả điều tra bổ sung không có căn cứ xác định bị cáo Hòa Lan A5 phạm tội khác ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xác định: Tối ngày 16/12/2023, tại quán K thuộc tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Dương Khánh H đã 03 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý, Dương Nguyễn Lan A đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý. Cụ thể: Lần 1: H đưa cho Lan A 01 túi ma tuý đá và hồng phiến để bán cho Nguyễn Duy H4 với giá 300.000đồng; lần 2: H đưa cho Ngô Thị T3 03 viên ma tuý kẹo để mang vào cho Lương Công Tuấn A1; lần 3: H đưa cho Lan A 01 chỉ ma tuý ke để mang vào phòng Vip 4 bán cho Lương Công Tuấn A1.
Lương Công Tuấn Al có hành vi cung cấp chất ma tuý; Ngô Thị T3 giúp sức cho Tuấn Al mua ma tuý, chuẩn bị công cụ và chế biến ma tuý cho Lương Công Tuấn A1, Nguyễn Xuân T5, Nguyễn Đình S, Phạm Thị Ngọc T6 và bản thân T3 sử dụng. Số ma tuý còn lại chưa sử dụng hết là 0,242 gam, loại Ketamine.
Ngoài ra, Dương Khánh H còn được Nguyễn Minh H5 giao cất giữ 14,191 gam ma tuý MDMA, 26,076 gam ma tuý Methamphetamine và 1,243 gam ma tuý Ketamine mục đích để bán.
Tổng khối lượng chất ma tuý Dương Khánh H phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán là 14,191 gam ma tuý MDMA, 26,076 gam ma tuý Methamphetamine và 1,485 gam ma tuý Ketamine. Tổng khối lượng chất ma tuý Dương Nguyễn Lan A phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán là 0,242 gam ma tuý Ketamine.
Như vậy, bị cáo Dương Khánh H, Dương Nguyễn Lan A đã có hành vi mua bán ma túy một cách bất hợp pháp, biết rõ việc mua bán ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện việc mua bán ma túy để kiếm lời.
Bị cáo Lương Công Tuấn A1, Ngô Thị T3 là người bố trí, sắp xếp, điều hành, cung cấp ma túy, phương tiện, dụng cụ... để cho các đối tượng khác thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K.
Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Đều nhận thức được các chất ma túy do Nhà nước quản lý và nghiêm cấm công dân tàng trữ, vận chuyển, mua bán tổ chức sử dụng. Người nào có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với khối lượng theo quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo Dương Khánh H, Dương Nguyễn Lan A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; H bị truy tố theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Lan A bị truy tố theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Lương Công Tuấn A1, Ngô Thị T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [4]. Đánh giá vai trò của các bị cáo Dương Khánh H, Dương Nguyễn Lan A về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của các bị cáo H, Lan A cùng thực hiện hành vi mua bán ma túy cho H4 và mua bán ma túy cho Tuấn A1 nhưng các bị cáo không có sự phân vai bàn bạc gì, là đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Dương Khánh H: H được vợ chồng H5 thuê làm nhân viên phục vụ quán Karaoke 196, được H5 giao quản lý quán và cất giữ ma túy mục đích để bán cho khách. Ngày 16/12/2023, H đưa cho Lan A ma túy đá-ngựa để bán cho Nguyễn Duy H4. Tiếp đó buổi tối cùng ngày H tiếp tục đưa ma túy cho T3 để T3 mang vào phòng hát cho mọi người sử dụng. Khi T3 bảo H lấy ma tuý Ketamine cho khách thì H đưa ma túy cho Lan A để Lan A mang vào phòng cho mọi người sử dụng. Như vậy H đã có 3 lần bán ma túy khách và phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán là 14,191 gam ma tuý MDMA, 26,076 gam ma tuý Methamphetamine và 1,485 gam ma tuý Ketamine.
Hành vi của bị cáo Dương Nguyễn Lan A: Lan A cũng được vợ chồng H5 thuê làm nhân viên phục vụ quán Karaoke 196, Lan A làm việc theo sự chỉ đạo của H khi H5 đi vắng. Ngày 16/12/2023 Lan A được H đưa cho ma tuý đá- ngựa và bảo đưa cho Nguyễn Duy H4 và thu 300.000đồng của H4 về đưa lại cho H. Sau đó Lan A là người sang nhà H5 lấy ma túy Ketamine theo sự chỉ đạo của H để H thực hiện việc bán ma túy cho khách tại phòng Vip 4 trong quán hát. Như vậy Lan A đã có 2 lần bán ma túy khách và phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán là 0,242 gam ma tuý Ketamine.
Như vậy bị cáo H có vai trò chính và cao hơn, thực hiện nhiều lần hơn và nhiều loại ma túy hơn so với bị cáo Lan A nên cáo trạng truy tố bị cáo H theo quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự và Lan A theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng nên mức án đối với bị cáo cần tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ răn đe và phòng ngừa chung.
- [5]. Đánh giá vai trò của các bị cáo Lương Công Tuấn A1, Ngô Thị T3 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của các bị cáo Tuấn A1, T3 cùng thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho những người khác trong phòng hát karaoke cùng sử dụng nhưng bị cáo Tuấn A1 là người bảo T3 làm theo sự điều khiển của Tuấn A1 và T3 thực hiện hành vi do Tuấn A1 bảo, không có sự phân vai bàn bạc gì, là đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Lương Công Tuấn A1: Bị cáo đến quán hát và bảo T3 lấy cho 03 viên ma tuý kẹo ở chỗ H và bảo T3 chế biến, nghiền nhỏ để mọi người sử dụng. Sau khi sử dụng hết số ma túy kẹo, Tuấn A1 bảo T3 lấy thêm 01 chỉ ma tuý Ketamine ở chỗ H vào bảo T3 tiếp tục chế biến để mọi người tiếp tục sử dụng.
Hành vi của bị cáo Ngô Thị T3: Bị cáo là người phục vụ quán hát, được Tuấn A1 bảo lấy cho 03 viên ma tuý kẹo để mọi người sử dụng, T3 đã lấy ma túy từ H và T3 đã nghiền nhỏ ma túy hòa tan vào nước Cocacola cho mọi người sử dụng. Sau khi sử dụng Tuấn A1 bảo T3 lấy thêm ma tuý Ketamine từ H, T3 đã tiếp tục chế biến như hơ nóng, dùng thẻ cứng miết rồi kẻ thành các đường (xào ke) và mang ma tuý vào phòng để mọi người sử dụng.
Như vậy, hành vi của Tuấn A1 có vai trò cao hơn T3. Tuấn A1 là người chỉ đạo T3 lấy ma túy còn T3 làm theo sự điều khiển của Tuấn A1 nhưng T3 là người rất tích cực chế biến ma túy cho bản thân và mọi người cùng sử dụng. Do vậy cần buộc Tuấn A1 có mức hình phạt cao hơn T3 để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
- [6]. Đánh giá tính chất của vụ án: Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, mặc dù các bị cáo H, Lan A nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma tuý; bị cáo Tuấn A1, T3 biết rõ hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt nghiêm khắc theo quy định của Bộ luật hình sự. Ma túy đã trở thành mối hiểm họa chung của từng quốc gia và toàn nhân loại, đi cùng với đó là sự nghèo đói và bệnh tật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Xét tính chất hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo H là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Lan A, Tuấn A1, T3 là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay cho việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, Bị cáo Tuấn Al do ăn chơi, đua đòi nên đã tổ chức sử dụng ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo T3 làm nhân viên quán hát, thực hiện việc tổ chức sử dụng ma tuý theo sự chỉ đạo của Tuấn A1. Bị cáo H, bị cáo Lan A vì mục đích kiếm lợi bất chính và lợi ích vật chất khác của các bị cáo. Các bị cáo vẫn cố tình thực hiện các hành vi phạm tội đến cùng. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
- [7]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- · Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Khánh H phải chịu tình tiết tặng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Còn lại các bị các khác không phải chịu tình tiết tặng nặng nào.
- · Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có bà nội là Dương Thị Đ1 tham gia công dân hỏa tuyến, quá trình học phổ thông bị cáo được nhà trường tặng nhiều giấy khen do vậy, áp dụng cho bị cáo H tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Dương Khánh H và bị cáo Dương Nguyễn Lan A thời điểm xẩy ra sự việc các bị cáo chưa đủ 16 tuổi là trẻ em, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên áp dụng cho hai bị cáo quy định chương người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lan A phạm tội rất nghiêm trọng, bị cáo H phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải có mức án cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, biết tuân thủ pháp luật nhưng khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mà không có căn cứ xét xử mức hình phạt như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo H và bị cáo Lan A.
Đối tượng Nguyễn Minh H5, Nguyễn Thị T7 sau khi phạm tội vắng mặt tại địa phương. Ngày 08/7/2024, Cơ quan điều tra có quyết định tách vụ án hình sự đối với H5 để điều tra, xử lý bằng vụ án khác. Hội đồng xét xử tiếp tục đề nghị cơ quan điều tra xem xét xử lý, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với Trần Thị A4 được Ngô Thị T3 đưa cho 01 viên nén bảo nghiền nhỏ nhưng A4 không biết viên nén là ma tuý và không chứng kiến mọi người sử dụng ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trần Thị A4 là có căn cứ.
Đối với Lò Thị Q có hành vi tàng trữ 0,392 gam ma túy Ketamine mục đích để sử dụng, chưa đủ lượng truy cứu trách nhiệm hình sự; Nguyễn Xuân T5, Nguyễn Đình S, Phạm Thị Ngọc T6 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 04/7/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q, T5, S và T6 về hành này.
Đối với Nguyễn Duy H4 sau khi mua ban túy của Lan A mục đích để sử dụng khi đem về nhà chưa sử dụng thì biết tin quán K bị Công an kiểm tra nên H4 đã vứt số ma túy đi nên cơ quan điều tra không có cơ sở, căn cứ để xem xét hành vi của H4 là có căn cứ.
- [8]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung có thể là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo H và Lan A dưới 16 tuổi; bị cáo T3 thuộc hộ cận nghèo; bị cáo H là hộ nghèo, bị cáo Tuấn Al không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với các bị cáo.
- [9]. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Số ma túy bị thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành, 02 lon coca là dụng cụ sử dụng ma tuý không có giá trị gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + 01 điện thoại Iphone XS Max của H, 01 điện thoại Iphone 6s của Lan A dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + 01 điện thoại Iphone 8 của Tuấn A1, 01 điện thoại Iphone 8 của T3 không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ của Tuấn A1 để đảm bảo thi hành án.
- + 01 điện thoại Iphone XS Max của anh Nguyễn Xuân T5 không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho T5.
- [10]. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Tuấn Al phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lan A phạm tội là trẻ em, bị cáo Dương Khánh H là người dưới 16 tuổi và là hộ nghèo, bị cáo Ngô Thị T3 là hộ cận nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí sơ thẩm cho các bị cáo Dương Khánh H, Ngô Thị T3, Dương Nguyễn Lan A.
- [11]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Về hình phạt:
- Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Dương Khánh H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 22/12/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Dương Nguyễn Lan A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lương Công Tuấn A1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2023.
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị T3 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2023.
- Về xử lý tài sản, vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy:
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- - 01 điện thoại Iphone XS Max của Dương Khánh H được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Hòa”,
- - 01 điện thoại Iphone 6s của Lan A được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Điện thoại Lan A”
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Lương Công Tuấn A1 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Dương Nguyễn Lan A, Dương Khánh H và Ngô Thị T3.
- Quyền kháng cáo và các quyền khác
Số ma túy được niêm phong trong 05 phong bì ký hiệu QT, QT1, QT2, QT3, túi nilon, đều niêm phong bằng dấu đỏ của phòng K1 Công an tỉnh B, chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N4 và Mai Tuấn A6, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định. 02 vỏ lon nước ngọt nhãn hiệu cocacola.
Trả lại cho anh Nguyễn Xuân T5 01 điện thoại Iphone XS Max được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Điện thoại Nguyễn Xuân T5”.
Trả lại cho bị cáo Ngô Thị T3 01 điện thoại Iphone 8 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Điện thoại Ngô Thị T3”
- Trả lại Lương Công Tuấn A1 01 điện thoại Iphone 8 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Điện thoại Lương Tuấn Al” nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp và luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Khánh H, Dương Nguyễn Lan A có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo Dương Nguyễn Lan A (ông T); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a,7b và 9- Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30- Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Khánh Hòa và ĐP Mua bán trái phép chất ma túy
