|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 107/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Ngọc Khải;
Ông Nguyễn Đăng Khoa;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 11/11/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Công M, sinh năm 1988 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Công T; con bà Phạm Thị N; bị cáo có vợ là Lê Thị T1, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/7/2024 đến ngày 16/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh: Đỗ Văn K, sinh năm 1978.
- Anh: Trần Đức V, sinh năm 1981.
- Anh: Phạm Văn M1, sinh năm 1985.
- Anh: Nguyễn Minh P, sinh năm 1992.
- Anh: Dương Anh T2, sinh năm 1997.
Trú tại: thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại: thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên
Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên
Trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên .
Đều vắng mặt
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1992.
Trú tại: thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Cùng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do ham lợi nhuận nên khoảng giữa năm 2019, Nguyễn Công M, sinh năm 1988, trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao. Khi cho khách vay tiền, M thỏa thuận sẽ cho vay với mức lãi suất từ 1.000 đồng đến 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (M yêu cầu khách cứ 10 ngày đến 30 ngày thì phải nộp tiền lãi). Đối với khách vay tiền là người quen biết thì không phải để lại giấy tờ tùy thân. Đối với khách vay tiền là người lạ, không quen biết, M yêu cầu khách phải viết giấy biên nhận vay tiền với nội dung: Số tiền vay, thời hạn trả nhưng không ghi lãi suất và số tiền lãi phải trả để tránh việc xử lý của Cơ quan Công an (các giấy vay tiền M không còn giữ). Đến hạn nộp tiền lãi thì khách sẽ đến nộp trực tiếp cho M bằng tiền mặt. Để quản lý các khách hàng vay, M sử dụng tài khoản “0983114665” với mật khẩu “141188” lưu trên trang Wed "1gol.biz" trong đó thực hiện theo dõi quản lý các khoản vay, kỳ hạn đóng lãi và lãi suất phải trả, đồng thời M viết các khoản vay vào 01 quyển sổ để tiện theo dõi.
Trong khoảng thời gian từ ngày 04/9/2020 đến ngày 27/5/2024, M đã cho 05 khách hàng vay tiền với tổng số tiền là 230.000.000 đồng với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm đến 219%/năm), tổng số tiền lãi M đã thu của khách là: 394.600.000 đồng, trong đó: số tiền thu lời bất chính là: 328.013.713đ ồng, tổng số tiền theo quy định của pháp luật là: 66.586.287 đồng. Số tiền gốc khách đã trả cho M là: 210.000.000 đồng, cụ thể:
- Từ ngày 14/01/2021 đến ngày 27/5/2024, M cho anh Đỗ Văn K, sinh năm 1978, trú tại: thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vay số tiền: 20.000.000đồng, lãi suất 3.000đồng/1.000.00đồng/ngày (tương đương 109,5 /năm), số tiền lãi M thu (1.230 ngày): 73.800.000đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 13.478.340 đồng. M thu lời bất chính: 60.321.660 đồng. Số tiền gốc và tiền lãi, anh K đã trả M.
- Từ ngày 10/7/2022 đến ngày 23/8/2024, M cho anh Trần Đức V, sinh năm 1981, trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vay số tiền: 20.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 146%/năm), số tiền lãi M thu (410 ngày): 32.800.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 4.492.780 đồng. M thu lời bất chính: 28.307.220 đồng. Số tiền gốc và tiền lãi, anh V đã trả M.
- Từ ngày 14/5/2023 đến ngày 06/12/2023, Nguyễn Công M đã nhiều lần cho anh Phạm Văn M1, sinh năm 1985, trú tại: thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên vay tổng số tiền: 45.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng /1.000.000 đồng/ngày (tương đương 182,5%/năm), số tiền lãi M1 thu (145 ngày): 8.400.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 920.472 đồng. M1 thu lời bất chính: 7.479.528 đồng. Số tiền gốc và tiền lãi, anh Phạm Văn M1 đã trả M1, cụ thể:
- Ngày 14/5/2023 đến ngày 17/7/2023, Nguyễn Công M đã cho anh Phạm Văn M1 vay số tiền: 10.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (65 ngày): 3.250.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 356.135 đồng. M1 thu lời bất chính: 2.893.865 đồng.
- Ngày 01/7/2023 đến ngày 20/7/2023, Nguyễn Công M đã cho anh Phạm Văn M1 vay số tiền: 10.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (20 ngày): 1.000.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 109.580 đồng. M1 thu lời bất chính: 890.420 đồng.
- Ngày 19/8/2023 đến ngày 03/10/2023, Nguyễn Công M đã cho anh Phạm Văn M1 vay số tiền: 15.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (46 ngày): 3.450.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 378.051đồng. M1 thu lời bất chính: 3.071.949 đồng.
- Ngày 23/11/2023 đến ngày 06/12/2023, Nguyễn Công M đã cho anh Phạm Văn M1 vay số tiền: 10.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (14 ngày): 700.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 76.706 đồng. M1 thu lời bất chính: 623.294 đồng.
- Từ ngày 22/11/2021 đến ngày 05/01/2023, M1 cho anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1992, trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vay số tiền: 15.000.000 đồng, lãi suất 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 219%/năm), số tiền lãi M1 thu (410 ngày): 36.900.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 3.369.585 đồng. M1 thu lời bất chính: 33.530.415 đồng. Số tiền gốc và tiền lãi, anh P đã trả M1.
- Từ ngày 04/9/2020 đến ngày 31/8/2022, M1 nhiều lần cho anh Dương Anh T3, sinh năm 1997, trú tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vay số tiền: 130.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm), số tiền lãi M1 thu (1.320 ngày): 242.700.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 44.325.110 đồng. M1 thu lời bất chính: 198.374.890 đồng. Anh T3 đã trả tiền lãi và 130.000.000 đồng tiền gốc cho M1 (nợ lại tiền gốc là 20.000.000 đồng), cụ thể:
- Ngày 04/9/2020 đến ngày 03/9/2022, M1 đã cho anh T3 vay số tiền: 30.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (730 ngày): 65.700.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 11.999.010 đồng. M1 thu lời bất chính: 53.700.990 đồng.
- Ngày 19/01/2021 đến ngày 31/8/2022, M1 đã cho anh T3 vay số tiền: 100.000.000 đồng, số tiền lãi M1 thu (590 ngày): 177.000.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 32.326.100đồng. M1 thu lời bất chính: 144.673.900 đồng.
Ngày 11/7/2024, Phòng C1 - Công an tỉnh H nhận được đơn tố giác của anh Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1992, trú tại: thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên tố cáo Nguyễn Công M đã có hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cùng ngày, Nguyễn Công M đã đầu thú và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H: 01 quyển sổ bìa màu đen có kích thước (19,5x27,5)cm, bên trong có nhiều chữ và số được đánh số theo thứ tự từ 01 đến 07 (trang), có chữ ký xác nhận của M ở từng trang (trong niêm phong ký hiệu A1).
Ngoài ra, M còn giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím, có lắp 01 sim nhà mạng Viettel đã qua sử dụng, bên trong chứa các nội dung ghi lại toàn bộ danh sách những khách hàng M cho vay tiền đều lưu trong ứng dụng trình duyệt S tại trang Wed “1gol.biz”.
Tại Kết luận giám định số: 260/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng C1 - Công an tỉnh H, kết luận: Chữ viết, chữ số trên tài liệu cần giám định là quyển sổ do Nguyễn Công M giao nộp so với chữ viết, chữ số của Nguyễn Công M trên tài liệu mẫu cần so sánh do cùng một người viết ra.
Ngày 16/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Công M tại: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Kết quả: không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Quá trình điều tra, Nguyễn Công M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của M phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền thu lời bất chính do thu lãi suất vượt quá 20%/năm, anh Phạm Văn M1 và anh Nguyễn Minh P yêu cầu mạnh phải trả lại cho các anh. Anh Đỗ Văn K và Trần Đức V không yêu cầu M1 phải trả lại. Anh Dương Anh T2 đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với những khoản vay M1 ghi trong quyển sổ màu đen và lưu trong ứng dụng trình duyệt Sarafi tại rang W “1gol.biz” trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone do M1 giao nộp: Quá trình điều tra, xác định ngoài nội dung thể hiện các khoản Mạnh cho các anh K, V, M1, P, T2 vay và thu lãi nêu trên, những khoản vay còn lại đều chưa đến mức xử lý hình sự và đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, không có căn cứ xử lý M1 đối với những khoản vay này.
Cáo trạng số: 101/CT-VKS-P3 ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M số tiền từ 230.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, tiền truy thu và một số nội dung khác theo quy định.
Bị cáo nhất trí và không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là hình phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Kết luận giám định số: 260/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng C1 - Công an tỉnh H, phù hợp khách quan với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Do ham lợi nhuận nên khoảng giữa năm 2019, Nguyễn Công M đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao. Khi cho khách vay tiền, bị cáo thỏa thuận sẽ cho vay với mức lãi suất từ 1.000 đồng đến 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Đến hạn nộp tiền lãi thì khách sẽ đến nộp trực tiếp cho bị cáo bằng tiền mặt. Để quản lý các khách hàng vay, bị cáo sử dụng tài khoản “0983114665” với mật khẩu “141188” lưu trên trang Wed "1gol.biz" trong đó thực hiện theo dõi quản lý các khoản vay, kỳ hạn đóng lãi và lãi suất phải trả, đồng thời viết các khoản vay vào 01 quyển sổ để tiện theo dõi.
Trong khoảng thời gian từ ngày 04/9/2020 đến ngày 27/5/2024, bị cáo đã cho 05 khách hàng vay tiền với tổng số tiền là 230.000.000 đồng với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 109,5% đến 219%/năm), tổng số tiền lãi bị cáo đã thu của khách là: 394.600.000 đồng, trong đó: số tiền thu lời bất chính là: 328.013.713 đồng, tổng số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 66.586.287 đồng. Số tiền gốc khách đã trả cho bị cáo là: 210.000.000 đồng, cụ thể:
- Từ ngày 14/01/2021 đến ngày 27/5/2024, bị cáo cho anh Đỗ Văn K vay: 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.00 đồng/ngày (tương đương 109,5/năm), số tiền lãi thu (1.230 ngày): 73.800.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm: 13.478.340 đồng. Bị cáo thu lời bất chính: 60.321.660 đồng.
- Từ ngày 10/7/2022 đến ngày 23/8/2024, bị cáo cho anh Trần Đức V vay: 20.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 146% /năm), số tiền lãi thu (410 ngày): 32.800.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 4.492.780 đồng. Bị cáo thu lời bất chính: 28.307.220 đồng.
- Từ ngày 14/5/2023 đến ngày 06/12/2023, Nguyễn Công M đã nhiều lần cho anh Phạm Văn M1 vay tổng số: 45.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 182,5%/năm), số tiền lãi thu (145 ngày): 8.400.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 920.472 đồng. Bị cáo thu lời bất chính: 7.479.528 đồng.
- Từ ngày 22/11/2021 đến ngày 05/01/2023, bị cáo cho anh Nguyễn Minh P vay số tiền: 15.000.000 đồng, lãi suất 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 219%/năm), số tiền lãi thu (410 ngày): 36.900.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm: 3.369.585 đồng. Bị cáo thu lời bất chính: 33.530.415 đồng.
- Từ ngày 04/9/2020 đến ngày 31/8/2022, M1 nhiều lần cho anh Dương Anh T3 vay số tiền: 130.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm), số tiền lãi thu (1.320 ngày): 242.700.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm: 44.325.110 đồng. Bị cáo thu lời bất chính: 198.374.890 đồng.
Bị cáo cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất cao hơn gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Hình sự, trong đó có nhiều lần thu lờ bất chính với số tiền trên 30.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo ra tại phiên tòa với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về hoạt động tín dụng, Ngân hàng, làm xáo trộn các hoạt động tín dụng, Ngân hàng tại địa bàn. Việc cho vay của bị cáo với mức lãi suất quá quy định của pháp luật đã gây thiệt hại về kinh tế đối với những người vay tiền của bị cáo. Nhưng vì động cơ, mục đích thu lời bất chính bị cáo đã bất chấp các quy định cấm của Nhà nước đối với các hoạt động cho vay trong các giao dịch dân sự với lãi suất cao, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử và dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện nhiều hành vi cho vay lãi nặng thu lời bất chính số tiền trên 30.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền bị cáo thu lời bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sau khi nhận lại tiền có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi hành vi phạm tội bị tố cáo, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú tại Cơ quan Công an. Bị cáo có đơn trình bày đặc điểm nhân thân và hoàn cảnh gia đình và xin hưởng mức án thấp nhất có xác nhận và đề nghị của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thêm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở các đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử nhận thấy: mặc dù bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tích cực khắc phục bồi thường thiệt hại do hành vi mà mình đã gây ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải là đối tượng hình sự nguy hiểm. Do vậy, xét thấy không cần thiết phải cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà xử phạt bị cáo hình phạt tiền như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền bị cáo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay, bị cáo đã thu lời bất chính (phần lãi vượt quá quy định 20%/năm). Các anh Phạm Văn M1 và Nguyễn Minh P yêu cầu bị cáo phải trả lại. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện trả lại cho anh K và anh P, các anh đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm, do vậy không đặt ra xem xét.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
7.1/Tiền truy thu:
- Đối với: Số tiền bị cáo thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vượt quá quy định của pháp luật (trên 20%/năm). Các anh K, V tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải thanh toán trả cho các anh, cụ thể Đỗ Văn K: 60.321.660 đồng; Trần Đức V: 28.307.220 đồng nên không đặt ra xem xét. Anh T3 có quan điểm không yêu cầu bị cáo phải trả nhưng đề nghị sung ngân sách nhà nước nên cần sung ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo đã thu lời bất chính trên 20%/năm mà bị cáo đã thu của anh T3 là: 198.374.890 đồng.
- Đối với: Số tiền bị cáo thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không vượt quá quy định (dưới 20%/năm): Anh Đỗ Văn K: 13.478.340 đồng; Trần Đức V: 4.492.780 đồng; Dương Anh T2: 44.325.110 đồng; Phạm Văn M1: 920.472đ ồng; Nguyễn Minh P: 3.369.585 đồng. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền gốc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thanh toán trả cho bị cáo: 210.000.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu của bị cáo sung ngân sách Nhà nước.
+ Đối với số tiền gốc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Anh T2 chưa thanh toán cho bị cáo: 20.000.000 đồng. Cần tịch thu của anh Dương Anh T2 sung ngân sách Nhà nước (anh T2 không có nghĩa vụ trả bị cáo số tiền này).
7.2/Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím, bên trong có lắp 01 thẻ sim Viettel, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước
- Đối với: 01 quyển sổ bìa màu đen do bị cáo M1 giao nộp, đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M số tiền 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo tổng số tiền: 474.961.177 đồng (Bốn trăm bảy mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng).
- + Tịch thu của anh Dương Anh T2 số: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- + Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím, bên trong có lắp 01 thẻ sim Viettel.
- + Lưu giữ trong hồ sự vụ án 01 quyển sổ bìa màu đen do bị cáo M giao nộp.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Công an tỉnh H).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |
Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 107/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Mạnh phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
