Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIẢNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Vần và bà Lê Thị Phương Thuận.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Toà án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐ-HSST ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Khắc T, sinh năm 1976; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Khắc K (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là chị Trần Thị T1, sinh năm 1976 (đã ly hôn); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án: Bản án số 63/2021/HS-ST ngày 12/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2022); Nhân thân: Ngày 17/2/2011, Công an huyện C xử phạt hành chính đối với hành vi Đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/6/2024 đến ngày 25/6/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;

2. Họ và tên: Vũ Đình T2, sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Vũ Đình S, sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1964; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất. Bị cáo có vợ là chị Tô Minh T3, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có một con sinh năm 2010. Nhân thân: Bản án số 63/2017/HSST ngày 21/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2019 và các quyết định khác của bản án). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/6/2024 đến ngày 25/6/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Trọng T4, sinh năm 1981
  2. Anh Mai Văn G, sinh năm 1982

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Khắc T, Vũ Đình T2, Nguyễn Trọng T4, sinh năm 1981 ở thôn N, thị trấn L, huyện C và Mai Văn G, sinh năm 1982, ở thôn T, xã C, huyện C là bạn bè xã hội và đều là người sử dụng ma túy tổng hợp. Sáng ngày 22/6/2024, Trọng T4 đến nhà Khắc T ở khu T, thị trấn L chơi. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T2 sử dụng điện thoại di động OPPO, lắp sim số 0865220991 gọi đến sim số 0973484376 của Khắc T, bảo Khắc T đi mua ma túy về cùng sử dụng thì Khắc T đồng ý. T2 chuyển khoản 300.000 đồng từ số tài khoản 1015067147 ngân hàng V đến số tài khoản 10114638166 ngân hàng V của Khắc T. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T2 đi đến nhà Khắc T thấy chưa có ma túy nên đã bảo Khắc T đi mua ma túy về sử dụng. Khi Khắc T đi bộ ra cổng thì gặp một người bạn xã hội tên là K1 (không rõ địa chỉ), K1 đưa cho Khắc Tâm 700.000 đồng nhờ mua ma túy hộ thì Khắc T đồng ý bảo K1 chờ một lúc. Sau đó, Khắc T gọi đến sim số 0523419912 của một người tên là C1 (không rõ địa chỉ) hỏi mua 01 gói ma túy đá 300.000 đồng và 01 gói ma túy đá 700.000 đồng, C1 đồng ý bảo Khắc T chuyển khoản tiền mua ma túy. Khắc Tâm chuyển khoản 1.000.000 đồng đến số tài khoản 0978354198 ngân hàng M1 của C1 thì C1 bảo ma túy C1 để trong chiếc khẩu trang màu đen ở đầu đoạn đường cánh đồng đi từ thị trấn L đến thôn T, xã C. Khắc T đi bộ đến vị trí C1 chỉ dẫn thấy trong chiếc khẩu trang màu đen để ở rìa đường có 02 túi ma túy nên đã cầm về, trên đường về Khắc T đưa cho K1 gói ma túy to (700.000 đồng) và cầm gói ma túy còn lại về nhà. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Khắc T để gói ma túy trên bàn uống nước tại phòng khách rồi đi ra khóa cổng. T2 cầm gói ma túy mang vào trong phòng bếp, lấy chai nước và bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên nóc tủ bếp của Khắc T lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó, T2 dùng một đoạn ống nhựa màu xanh một đầu vát xúc một phần ma tuý cho vào coóng thủy tinh, dùng bật lửa ga châm lửa vào bầu coóng để T2, Khắc T, Trọng T4 cùng sử dụng, đồng thời Khắc Tâm gọi điện thoại bảo G đến sử dụng ma túy cùng. Đến 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi T2, Khắc T, Trọng T4, G vừa sử dụng ma túy xong thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm (01 chai nhựa màu trắng loại 500ml, nắp chai màu đen, trên nắp đục 02 lỗ hình tròn đường kính 0,5cm, trên lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 coóng thuỷ tinh, bầu coóng bám dính chất tinh thể màu nâu); 01 vỏ túi nilon màu trắng, kích thước (2x2,5)cm trong có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu xanh có sọc kẻ trắng dài 6,5cm, một đầu cắt vát có bám dính chất tinh thể màu trắng; 02 bật lửa ga màu đỏ và màu xanh; 01 đoạn ống kim loại dài 07 cm, một đầu ống nhựa trắng thân quẩn giấy bạc màu vàng; 01 điện thoại di động OPPO màu xanh, lắp sim số 0865220991 của T2 và 01 điện thoại OPPO A7 lắp sim số 0973484376 của Nguyễn Khắc T.

Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu tìm chất ma túy đối với Nguyễn Khắc T, Vũ Đình T2, Nguyễn Trọng T4 và Mai Văn G đều dương tính với ma túy Methamphetamine.

Kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu trắng bám dính bên trong chai nhựa màu trắng loại 500ml, trong mẫu chất màu trắng bám dính bên trong đoạn ống nhựa màu trắng, trong mẫu chất màu nâu bám dính bên trong coóng thủy tinh, trong chất tinh thể mầu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng và chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong đoạn ống nhựa màu xanh có sọc kẻ trắng một đầu cắt vát. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Qua tra cứu xác định số điện thoại 0523.419.xxx đăng ký mang tên bà Tiêu Thị L, sinh năm 1969, ở thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Bà L xác định không đăng ký và không sử dụng số điện thoại 0523.419.xxx. Số tài khoản 0978354198 ngân hàng M1, chủ sở hữu là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1994, ở thôn T, xã Đ, huyện C Nguyễn Văn C1 vắng mặt tại địa phương, Nguyễn Khắc T và Vũ Đình T2 khai chưa bao giờ gặp C1 nên không có căn cứ nhận dạng.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa ga, 01 đoạn ống kim loại dài 07 cm, một đầu ống nhựa trắng thân quẩn giấy bạc màu vàng và 02 điện thoại di động được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại Cáo trạng số 104/2024/CT-VKS ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Khắc T và Vũ Đình T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi nêu trên; đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong bản Cáo trạng là hoàn toàn đúng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: 1. Tuyên các bị cáo Nguyễn Khắc T và Vũ Đình T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Riêng bị cáo T bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T từ 07 (Bẩy) năm 08 (Tám) tháng đến 08 (Tám) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 22/6/2024; Xử phạt bị cáo Vũ Đình T2 từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 22/6/2024; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chúng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa ga, 01 đoạn ống kim loại dài 07 cm, một đầu ống nhựa trắng thân quẩn giấy bạc màu vàng, các sim điện thoại số 0865.220.xxx và 0973484376; Tịch thu sung quỹ nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh (của T2) và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 (của T); 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo (T và T2) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nhất có thể, để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chúng, vật chúng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử (HĐXX) có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 30 đến 18 giờ 50 ngày 22/6/2024 tại chỗ ở của Nguyễn Khắc T tại khu T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương, Vũ Đình T2 đã có hành vi góp tiền, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy; Nguyễn Khắc T đã có hành vi mua ma túy M, chuẩn bị địa điểm để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Trọng T4, Mai Văn G cùng sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn huyện C nơi có nhiều khu công nghiệp có nhiều công nhân đang cư trú tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng ma túy với nhau và tổ chức cho bạn là Trọng T4 và G với số lượng tham gia sử dụng ma túy là 4 người. Như vậy, xác định các bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên ", đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận Vũ Đình T2 là người khỏi xướng, chuẩn bị tiền mua ma túy; Nguyễn Khắc T là người chuẩn bị địa điểm, công cụ sử dụng ma túy và trực tiếp đi mua ma túy nên giữ vai trò ngang nhau.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Đối với bị cáo Nguyễn Khắc T đã bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt hành chính ngày 17/02/2011 về hành vi Đánh bạc; Ngày 12/11/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 63/2021/HS-ST, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2022 chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; bị cáo T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên cũng đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy thể hiện tại bản án số 63/2017/HSST ngày 21/11/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2019 và các quyết định khác của bản án nên xác định bị cáo T2 có nhân thân xấu; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi mình đã thực hiện nên HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

[5] Về hình phạt chính: HĐXX xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo trong vụ án.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định và đang bị tạm giam nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa ga, 01 đoạn ống kim loại dài 07 cm, một đầu ống nhựa trắng thân quẩn giấy bạc màu vàng, sim điện thoại số 0865.220.xxx và 0973484376 cần tịch thu cho tiêu hủy; đồng thời yêu cầu Doanh nghiệp viễn thông thu hồi các số sim số 0865220991 và sim số 0973484376 theo qui định tại khoản 5 Điều 9; Điều 53 của Luật viễn thông số 24/2023/QH15 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • - Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh (của T2) và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 (của T). Các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ Nhà nước theo qui định của pháp luật;

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác:

  • - Quá trình điều tra không xác định được đối tượng K1 theo Khắc T khai là người nhờ Khắc T mua ma túy hộ nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với đối tượng C1 theo Khắc T khai là người bán ma túy cho T hiện vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
  • - Đối với Nguyễn Trọng T4 và Mai Văn G tham gia sử dụng ma tuý cùng Nguyễn Khắc T và Vũ Đình T2 nhưng không có sự thống nhất, không phải góp tiền, G được Khắc T điện thoại mời đến sử dụng mà túy. Trọng Tâm và G không có hành vi tổ chức sử dụng ma túy cho ai nên không không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Khắc T, Vũ Đình T2, Nguyễn Trọng T4 và Mai Văn G, ngày 28/6/2024 Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khắc T;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự Vũ Đình T2;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 ; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo T và T2.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T và Vũ Đình T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T 07 (Bẩy) năm 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 22/6/2024;
    • Xử phạt bị cáo Vũ Đình T2 07 (Bẩy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 22/6/2024;
  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy hộp catton niêm phong số 326/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh H, bên trong có 01 nhựa màu trắng loại 500ml bám dính chất lỏng màu trắng, nắp chai màu đen, đục 02 lỗ, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng, một đầu cắt vát; 01 đoạn ống kim loại dài 07 cm, một đầu ống nhựa trắng thân quẩn giấy bạc màu vàng, 02 bật lửa ga màu đỏ và màu xanh; sim điện thoại số 0865.220.xxx và 0973484376. Yêu cầu Tập đoàn C2 thu hồi các số sim số 0865220991 và sim số 0973484376 theo qui định.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước giá trị điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh (của T2) và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 (của T);

    (Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).

  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (T, T2) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (T, T2) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/11/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Công an huyện Cẩm Giàng,
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 107/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc Tâm + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger